Nơi đó tình yêu
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
TRUYỆN TRANH

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Kim Quí
Ngày gửi: 12h:56' 28-04-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Nguyễn Thị Kim Quí
Ngày gửi: 12h:56' 28-04-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Bạn đang đọc ebook SÁCH CỦA BẠN TÔI của tác giả Anatole France
do Bookaholic Club chế bản theo Dự án chế bản Ebook (Making Ebook
Project).
Mong rằng ebook này sẽ mang đến cho bạn một tác phẩm Văn học hay,
giàu giá trị biểu cảm và nhân văn, với chất lượng cao. Chúng tôi luôn cố
gắng mang đến những chế bản ebook tốt nhất, nếu trong quá trình chế bản có
lỗi sai sót nào mong bạn góp ý và cho chúng tôi biết những ebook mà đang
mong muốn.
Making Ebook Project của Bookaholic Club là một hoạt động phi lợi
nhuận, nhằm mục đích mang đến những chế bản ebook hay, có giá trị với
chất lượng tốt nhất mà chúng tôi có thể với Cộng đồng đọc - người Việt. Tuy
nhiên, nếu bạn có khả năng xin hãy đọc tác phẩm này bằng sách trước hết vì
lợi ích cho Nhà xuất bản, bản quyền tác giả và góp phần phát triển xây dựng
nền Văn hóa đọc.
Hãy chỉ đọc chế bản này trong điều kiện bạn không thể tìm đến ấn
phẩm sách.
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ
LỜI GIỚI THIỆU
SÁCH CỦA PIERRE
NHỮNG NGƯỜI TÌNH ĐẦU
I
NHỮNG QUÁI VẬT
II
BÀ MẶC ĐỒ TRẮNG
III
MẸ CHO CON BÔNG HOA HỒNG NÀY
IV
CÁC CON VUA ÉDOUARD
V
CHÙM NHO
VI
MARCELLE MẮT VÀNG
VII
GHI CHÉP VÀO LÚC BÌNH MINH
NHỮNG TÌNH DUYÊN MỚI
I
NƠI ẨN DẬT Ở VƯỜN BÁCH THẢO
II
BỐ LE BEAU
III
BÀ NỘI NOZIÈRE
IV
CÁI RĂNG
V
PHÁT HIỆN RA THƠ
VI
TEUTOBOCHUS
VII
UY TÍN CỦA CHA VIỆN TRUỞNG JUBAL
VIII
CHIẾC MŨ CÁT KÉT CỦA FONTANET
IX
NHỮNG LỜI TRĂNG TRỐI CUỐI CÙNG CỦA DÉCIUS MUS
X
CỔ VĂN HỌC
XI
RỪNG SIM
XII
CÁI BÓNG
SÁCH CỦA SUZANNE
SUZANNE
I
CON GÀ TRỐNG
II
NHỮNG TÂM HỒN TỐI TĂM
III
NGÔI SAO
IV
GUIGNOL
BẠN BÈ CỦA SUZANNE
I
ANDRÉ
II
PIERRE
III
JESSY
TỦ SÁCH CỦA SUZANNE
I
GỬI BÀ DXXX
II
ĐỐI THOẠI VỀ NHỮNG CHUYỆN THẦN TIÊN LAURE,
OCTAVE, RAYMOND
GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ
Anatole France (tên thật là François-Anatole Thibault, 16 tháng 4 năm
1844 – 13 tháng 10 năm 1924) sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng
sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas.
Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập
thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng
tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của
Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm
Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le
Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống
văn học).
Những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tư tưởng và sáng tác của
Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan sát
để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông
thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy
vong của chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội
đương đại, đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais
và Voltaire, phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương
xót những kẻ gây chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao
giải Nobel Văn học vì “những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế,
chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực”…
A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận
đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo
tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire.
Tác phẩm chính:
- Những câu thơ vàng (Poèmes dorés, 1873), thơ.
- Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, 1881),
tiểu thuyết.
- Sách của bạn tôi (Le Livre de mon ami, 1885), hồi ký.
- Bông huệ đỏ (Le lys rouge, 1894), tiểu thuyết.
- Vườn Epicure (Le jardin d'Epicure, 1894), tập cách ngôn.
- Lịch sử hiện đại (L'histoire contemporaine), gồm 4 tiểu thuyết:
+ Cây du trên đường dạo chơi (L'orme du mail, 1897)
+ Hình người bằng cây liễu (Le mannquin d'osier, 1897)
+ Chiếc nhẫn tử thạch anh (L'anneau d'amethyste, 1899)
+ Ông Bergeret ở Paris (Monsieur Bergeret à Paris, 1901)
- Hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, 1912), tiểu thuyết
- Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, 1914), tiểu thuyết.
Những tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam:
- Quyển truyện của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Vũ Thị Hay và
Lê Ngọc Trụ dịch, Trung tâm Học liệu xuất bản, 1962, tái bản 1972
- Sách của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Hướng Minh dịch và
giới thiệu, NXB Văn Học, 1988, tái bản 2009.
- Đảo Panhgoanh (L'Île des Pingouins tiểu thuyết), Nguyễn Văn Thường
dịch, NXB Văn Học, 1982.
- Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, tiểu thuyết), Đoàn Phú Tứ
dịch, NXB Văn Học, 1987.
- Bông huệ đỏ (Le lys rouge, tiểu thuyết), Nguyễn Trọng Định dịch,
NXB Phụ Nữ, 1989.
- Các hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, tiểu thuyết), Trần Mai
Châu dịch, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1990.
- Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu
thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1996.
- Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu
thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001.
- Thais- Vũ nữ thoát tục, (Thaïs, tiểu thuyết), Hoàng Minh Thức dịch,
NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1989.
- Mối tình người thợ gốm, (tập truyện ngắn), Nxb Văn học, Hà Nội
1987.
LỜI GIỚI THIỆU
Anatole France (1844-1924) tên thật là Anatole Thibault, nhà văn hiện
thực và nhân đạo chủ nghĩa Pháp. Ông sinh ra tại Paris trong một gia đình có
cửa hàng bán sách, nơi lui tới của nhiều nhà văn và nghệ sĩ nổi tiếng lúc bấy
giờ. Chú bé Anatole ham mê sách và văn học, nghệ thuật từ đó.
Anatole France là người chịu ảnh hưởng của phái Pascal, tác phẩm đầu
tay là một tập thơ. Sau đó, hình tượng nhân vật Sylvestre Bonnard trong tiểu
thuyết nổi tiếng Tội ác của Sylvestre Bonnard (1881) mở đầu cho một loạt
nhân vật biểu hiện tư tưởng, tình cảm và tâm hồn nhà văn. Ðó là những con
người rất dễ thương, yêu đời và yêu con người, ham mê sách vở khoa học và
nghệ thuật, sống thoải mái với một tấm lòng cởi mở, một chủ nghĩa nhân đạo
nhe nhàng, chút ít châm biếm và hoài nghi. Nhà văn phê phán tôn giáo và
nhà thờ làm mê muội con người, phê phán lối sống hẹp hòi, đạo đức giả, bất
công và tàn nhẫn.
Những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, chịu ảnh hưởng sâu sắc của
“Sự kiện Dreyfus” và Cách mạng Nga 1905, sự nghiệp văn chương của A.
France chuyển hướng mạnh mẽ. Trong thời kì sáng tác này, ông viết về
những sự kiện lịch sử và xã hội đang biến diễn, tiếp tục truyền thống nhân
văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire, phê phán nền Cộng hoà thứ ba của
Pháp, lên án chủ nghĩa thực dân và chế độ phân biệt chủng tộc...
Năm 1921, Anatole France được trao giải Nobel văn học vì những tác
phẩm xuất sắc mang phong cách tính tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí
chất Gauloir đích thực.
Sách của bạn tôi (1885) là một trong những tác phẩm tự truyện của
Anatole France và theo như lời tác giả nói ở đầu sách thì đây là cuốn sách
được ông viết vào “giữa quãng đường đời” của mình. Phần đầu tác phẩm
miêu tả quá trình phát triển nội tâm của nhân vật chính – chú bé Pierre
Nozière, đặc biệt là các mối quan hệ của chú với xã hội, những con người đã
đi qua tuổi thơ của chú và in vào tâm hồn chú những hình ảnh đẹp không
phai mờ. Phần sau của tác phẩm tập hợp những bài viết của Pierre về cô con
gái nhỏ khi anh đã trở thành bố và để ý, quan sát những cử chỉ, động tác của
con mình.
Đặc điểm nổi bật trong văn phong của A. France là tính trong sáng tuyệt
vời, nhẹ nhàng và nên thơ, đầy nhạc điệu, sâu sắc và dí dỏm, hài hước, biểu
lộ một tâm hồn yêu con người thắm thiết, phát huy truyền thống của Pascal,
Racine, Flaubert. Ông được coi là nhà văn Pháp mẫu mực về sự trong sáng
của ngôn ngữ.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Nhà xuất bản Văn học
SÁCH CỦA PIERRE
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
31 tháng Chạp năm 188…
Nel mezzo del cammin di nostra vita…
Giữa quãng đường đời….
Câu thơ ấy, câu mà Dante mở bài thánh ca thứ nhất của Thần khúc, trở
lại tâm trí tôi, tối nay, có lẽ là lần thứ một trăm. Nhưng đây là lần đầu nó làm
tôi xúc động.
Thích thú biết bao, tôi thầm nhắc lại câu thơ ấy, và tôi thấy nó nghiêm
chỉnh và đầy ý nghĩa! Là bởi lần này tôi có thể áp dụng nó cho bản thân tôi.
Đến lượt mình, tôi ở vào thời điểm của Dante xưa kia khi mặt trời già nua
đánh dấu năm đầu của thế kỷ mười bốn. Tôi đang ở giữa quãng đường đời,
giả dụ con đường ấy đối với tất cả mọi người đến dài như nhau và đều đưa
tới tuổi già.
Trời ơi! Tôi đã biết, hai mươi năm trước, rằng sẽ phải tới bước này, tôi
biết thế, nhưng tôi đã không cảm thấy thế. Lúc bấy giờ tôi quan tâm quãng
nửa đường đời như tới con đường đi tới Chicago. Giờ đây đã leo hết sườn
núi, tôi ngoảnh đầu lại để nhìn bao quát cả khoảng không mà tôi đã băng qua
nhanh chóng chừng nào, và câu thơ của thi sĩ thành Florence bỗng khiến tôi
triền miên suy tưởng đến đỗi tôi sẵn lòng ngồi thâu đêm trước ngọn lửa để
khêu dậy những bóng ma. Hỡi ôi! Những người chết sao mà nhẹ vậy!
Hồi tưởng thật là êm dịu. Yên lặng ban đêm khêu gợi hồi tưởng. Tịch
mịch ban đêm thuần hóa những hồn ma bản chất vốn dút dát, lẩn trốn và
muốn có bóng tối vắng vẻ để đến thì thầm cùng những bạn bè đương sống.
Các rèm cửa sổ đã kéo, các màn cửa buông nếp nặng trên mặt thảm. Chỉ có
một cánh cửa hé mở, nơi kia, phía mắt tôi tự nhiên quay lại. Ở đấy thoát ra
một ánh sáng xanh mờ nhạt, từ đấy đưa lại những hơi thở đều và êm, mà
chính tôi cũng khó phân biệt được hơi thở của mẹ và của các con.
Ngủ đi, những người yêu dấu ngủ đi!
Nel mezzo del cammin di nostra vita…
Bên bếp lửa tàn, tôi mơ màng và tưởng tượng cái nhà gia đình này, với
căn buồng trong đó rung rinh mờ sáng ngọn đèn khuya, và từ đó thoát ra
những hơi thở trong trẻo kia, là một quán trọ lẻ loi trên con đường cái lớn mà
tôi đã đi tới nửa chừng.
Ngủ đi, những người yêu dấu, ngày mai ta lại lên đường!
Ngày mai! Có một thời, từ ngữ ấy đối với tôi chứa đựng cái điều huyền
bí, đẹp đẽ nhất. Đọc nó lên, tôi nhìn thấy những bộ mặt không quen và
duyên dáng giơ ngón tay ra hiệu cho tôi và thì thào: “Lại đây!” Bấy giờ, tôi
yêu cuộc sống biết bao! Tôi đặt vào nó lòng tin đẹp đẽ của một gã si tình, và
tôi không nghĩ rằng cuộc sống có thể trở thành nghiệt ngã với tôi, mặc dù nó
vốn là tàn nhẫn.
Tôi không oán trách nó. Nó đã không gây cho tôi những vết thương như
nó đã gây cho bao người khác. Đôi khi ngẫu nhiên còn vuốt ve tôi nữa, cái
cô nàng đại thờ ơ ấy! Đánh đổi cái gì nó đã lấy đi hay từ chối tôi, nó đã cho
tôi những kho báu mà đem so sánh thì tất cả những gì tôi mong muốn chỉ là
tro tàn và khói bụi. Dù sao mặc lòng, tôi đã hết trông mong, và bây giờ tôi
không thể nghe nói: “Đến mai!” mà không có một cảm giác lo âu và buồn
bã.
Không! Tôi không còn tin tưởng ở cô bạn cũ cuộc sống nữa. Tôi vẫn
yêu đời. Chừng nào tôi nhìn thấy tia sáng thần diệu của cuộc sống lung linh
trên ba vầng trán trong trắng, trên ba vầng trán yêu thương, tôi vẫn bảo đời là
đẹp và tôi vẫn ca ngợi cuộc sống.
Có những giờ phút mà cái gì cũng khiến tôi ngạc nhiên, những giờ phút
mà những sự vật đơn giản nhất cũng đem cho tôi cái rợn mình của điều
huyền bí.
Bởi thế, lúc này, tôi thấy hình như ký ức là một tư chất tuyệt diệu và cái
năng khiếu tái hiện quá khứ cũng dễ làm ta kinh ngạc và còn quý hơn nhiều
cái năng khiếu dự đoán tương lai.
Kỷ niệm thực là một ân huệ. Đêm yên tĩnh, tôi đã vun các mẩu củi trong
lò sưởi và nhóm lại lửa.
Ngủ đi, những người yêu dấu, ngủ đi!
Tôi viết hồi ký tuổi thơ và đó là để TẶNG CẢ BA NGƯỜI YÊU DẤU!
NHỮNG NGƯỜI TÌNH ĐẦU
I
NHỮNG QUÁI VẬT
Những người bảo tôi rằng họ không nhớ tí gì về những năm đầu tuổi thơ
của mình khiến tôi rất ngạc nhiên. Về phần tôi, tôi còn giữ những ký ức tươi
sáng về cái thời tôi còn là một chú bé rất nhỏ. Thực ra, đó là những hình
bóng lẻ loi, song chính vì thế nó lại càng nổi bật lên trên một cái nền tối mờ
và bí hiểm. Mặc dầu tôi khá xa tuổi già, những ký ức yêu dấu đó hình như
đến với tôi từ một quá khứ vô cùng sâu thẳm. Tôi hình dung thế giới bây giờ
đương ở độ mới mẻ rạng rỡ và bao phủ toàn màu sắc tươi mát. Nếu là một kẻ
man di, tôi sẽ tin rằng thế giới cũng trẻ, hay tùy ý bạn, cũng già như tôi vậy.
Song không may tôi không là một kẻ man di. Tôi đã đọc nhiều sách về thời
thái cổ của trái đất và nguồn gốc muôn loài, và tôi buồn rầu so sánh cuộc đời
ngắn ngủi của cá nhân với sự tồn tại lâu dài của các chủng tộc. Cho nên tôi
biết chẳng lâu lắm đâu, tôi có một chiếc giường thành nhỏ trong một căn
buồng lớn của một ngôi nhà cổ rất cũ nát, ngôi nhà ấy đã bị phá để nhường
chỗ cho những tòa nhà mới của trường Mỹ thuật. Chính ở nơi đây cha tôi đã
sống, cha tôi là một thầy thuốc bình thường và rất thích sưu tập các vật lạ
thiên nhiên. Ai bảo trẻ con không có trí nhớ? Bây giờ tôi còn nhìn thấy căn
buồng ấy, với giấy bồi tường xanh lục vẽ hoa lá và một bức tranh khắc in rất
đẹp mô tả, như về sau tôi được biết, nàng Virginie được chàng Paul bồng
[1]
trên tay lội qua sông Đen . Trong căn buồng ấy đã có những chuyện mạo
hiểm phi thường xảy đến với tôi.
Như tôi đã nói, ở đấy tôi có một chiếc giường thành nhỏ kê ở trong một
góc và, mỗi tối, được mẹ tôi kéo ra đặt ngay giữa buồng, hẳn là để cho gần
giường mẹ, mà những tấm màn che mông mênh làm cho tôi vừa sợ hãi vừa
thán phục. Bảo tôi đi ngủ là cả một việc khó khăn. Và đã hết chuyện đâu:
Tôi mặc áo lót thoát ra và tôi nhảy như một con thỏ. Mẹ đuổi bắt lại tôi dưới
một cái gầm bàn để đặt tôi lên giường, thật là nhộn!
Nhưng tôi cứ vừa nằm xuống là có ngay những nhân vật hoàn toàn xa lạ
với gia đình bắt đầu đi diễu chung quanh tôi. Họ có những mũi mỏ cò, những
bộ ria lởm chởm, những cái bụng nhọn hoắt và những cẳng như cẳng gà
trống. Họ lộ nghiêng mặt, với một mắt tròn giữa má, và diễu hành, mang
chổi, xiên nướng thịt, đàn ghi ta, ống tiêm và vài dụng cụ kỳ lạ. Xấu xí như
họ thì đáng lẽ không nên lộ mặt, nhưng tôi phải thừa nhận một điều: Họ lặng
lẽ lướt đi dọc tường nhà và không một ai, cả đến chú bé nhất đi sau chót đeo
một cái bễ thổi lửa ở sau lưng, cũng không bao giờ tiến một bước đến
giường tôi. Rõ ràng là có một sức mạnh giữ họ trườn đi dọc theo tường mà
không phô ra một bè dày đáng kể. Điều đó làm cho tôi vững dạ một chút, vả
chăng, tôi vẫn thức. Hẳn bạn cũng thấy, nằm cạnh đám người như vậy thì
nhắm mắt sao được. Tôi mở mắt trân trân. Ấy thế mà (đó là một điều kỳ lạ
khác) tôi chợt lại thấy mình ở trong buồng đầy ánh nắng, nhìn ra chỉ thấy có
mẹ tôi mặc áo khoác hồng và không biết ban đêm với lũ quái vật đã biến đi
đâu mất.
- Con ngủ gì mà khiếp thế! – Mẹ cười bảo tôi.
Phải nói là tôi ngủ say thật.
Hôm qua, dạo vơ vẩn trên các phố bờ sông, tôi trông thấy ở cửa hàng
một người bán tranh khắc một quyển vở in những hình kỳ quái bây giờ đã
trở thành hiếm hoi, trong đó Callot, nhà họa sĩ xứ Lorrain, đã trổ tài với mũi
dao nhọn tế nhị và cứng rắn của ông. Hồi thơ ấu của tôi, một bà bán tranh in
- mẹ Mignot - ở cạnh nhà tôi đã phủ tranh kín cả một bức tường, và hàng
ngày tôi nhìn tranh, khi đi chơi và lúc trở về, mắt tôi được nuôi dưỡng bằng
những quái vật đó và khi nằm vào chiếc giường thành nhỏ của tôi, tôi lại
nhìn thấy chúng mà không nhận ra chúng. Ôi, ảo thuật của Jacques Callot!
Quyển vở nhỏ tôi lần giở đã đánh thức ở tôi cả một thế giới tan biến, và
tôi cảm thấy dâng lên trong tâm tưởng như một làn bụi thơm tho trong đó
những hình bóng yêu dấu đã trôi qua.
II
BÀ MẶC ĐỒ TRẮNG
Hồi đó có hai bà ở cũng nhà với chúng tôi, một bà mặc đồ trắng, một bà
toàn đồ đen.
Xin đừng hỏi hai bà ấy còn trẻ không, điều đó vượt quá sự hiểu biết của
tôi. Nhưng tôi biết các bà ấy thơm tho và có đủ mọi cung cách tế nhị. Mẹ tôi,
rất bận và không thích giao thiệp với hàng xóm, nên không đến nhà hai bà.
Nhưng tôi thì tôi đến luôn, nhất là vào giờ ăn quá trưa vì bà mặc đồ đen
thường cho tôi ăn bánh ngọt. Vậy là tôi cứ đến một mình. Phải đi qua sân.
Mẹ tôi đứng ở cửa sổ theo dõi tôi và gõ lên cửa kính khi nào tôi mải ngắm
bác đánh xe chải lông cho mấy con ngựa. Tốn sức lắm mới leo lên được cái
cầu thang lan can sắt, mà những bậc cao có phải làm cho đôi bắp chân nhỏ
của tôi đâu. Nhưng công của tôi không uổng một khi tôi vào căn phòng các
bà, vì trong đó có nghìn thứ cho tôi ngây ngất. Song không có gì bằng đôi
phỗng sứ ngồi trên lò sưởi; hai bên đồng hồ quả lắc. Tự chúng, chúng rụt đầu
và thè lưỡi. Người ta cho tôi biết chúng ở bên Tàu sang và tôi tự hứa sẽ đi tới
đó. Cái khó nhất là làm thế nào bảo chị vú em đưa tôi đến đấy. Tôi đã đinh
[2]
ninh rằng nước Tàu ở đằng sau Khải hoàn môn , nhưng tôi chưa bao giờ
có cách gì tiến đến tận đó.
Trong phòng các bà cũng có một cái thảm hoa, tôi thích thú lăn mình
trên đó, và một tràng kỷ nhỏ êm và sâu, mà tôi chơi khi làm tàu thủy, khi làm
ngựa hay xe. Bà mặc đồ đen, hơi béo thì phải, rất hiền và không bao giờ
mắng tôi. Bà mặc đồ trắng tinh hay sốt ruột và cộc cằn, nhưng bà cười mới
xinh chứ! Cả ba chúng tôi sống hòa thuận với nhau, và tôi đã dàn xếp trong
óc rằng bao giờ cũng sẽ chỉ có tôi được vào phòng phỗng sứ mà thôi. Bà mặc
đồ trắng mà tôi báo cho biết quyết định ấy, xem chừng hơi có vẻ giễu cợt tôi,
nhưng tôi nài nỉ và bà ấy hứa tất cả những gì tôi muốn.
Bà hứa như vậy. Thế mà một hôm, tôi thấy một ông ngồi vào tràng kỷ
của tôi, chân để lên thảm của tôi và nói chuyện với các bà, vẻ thỏa mãn. Hắn
còn đưa cho các bà một bức thư, các bà đọc rồi trả lại. Tôi không thích thế,
nên tôi đòi uống nước đường vì tôi khát và cũng để cho người ta chú ý đến
mình. Quả nhiên, ông kia nhìn tôi.
- Đây là một chú bé hàng xóm, - bà mặc đồ đen nói.
- Mẹ chú ấy chỉ có một mình chú thôi, có phải thế chăng? - Ông kia láy
lại.
- Đúng thế, - bà mặc đồ trắng nói. - Nhưng sao ông lại nghĩ như vậy?
- Vì chú có vẻ một đứa con rất được nuông chiều, - ông ấy láy lại. - Chú
ấy thóc mach và tò mò. Bây giờ chú đang mở mắt thao láo như hai cánh
cổng xe.
Ấy là để nhìn hắn cho kỹ. Tôi không muốn tự khoe, nhưng tôi rất hiểu,
sau câu chuyện, rằng bà mặc đồ trắng có một người chồng chức tước gì đó ở
một nước xa xôi, rằng ông khách đem đến một bức thư của người chồng ấy,
người ta cảm ơn sự giúp đỡ của ông, và người ta chúc mừng ông đã được bổ
nhiệm bí thư. Nhũng chuyện đó không làm tôi hài lòng và, khi ra về, tôi
không chịu hôn bà mặc đồ trắng, để phạt bà ta.
Bữa tối hôm đó, tôi hỏi cha tôi xem bí thư là cái gì. Cha tôi không trả
[3]
lời, và mẹ tôi bảo đó là một cái bàn gỗ nhỏ để xếp giấy tờ . Hiểu thế được
không? Tôi được bế đi ngủ, và các quái vật có mắt ở giữa má diễu hành
chung quanh giường tôi, mặt nhăn nhó hơn bao giờ hết.
Nếu bạn tưởng hôm sau tôi nghĩ đến cái ông thấy ở nhà bà mặc đồ trắng,
thì bạn lầm to, vì tôi đã quên khuấy hắn, và chỉ tùy ở hắn mà sẽ được xóa đi
vĩnh viễn khỏi trí nhớ tôi. Nhưng hắn cả gan lại dấn thân đến nhà hai bà bạn
tôi. Tôi không biết là mười hay mười lăm ngày sau cuộc đến thăm đầu tiên
của hắn. Ngày nay tôi thiên về ý nghĩ cho là mười ngày. Cái ông ấy chiếm
chỗ của tôi như thế, thật đến lạ. Lần này thì tôi ngắm nghía hắn, và chẳng
thấy hắn có vẻ gì dễ thương. Đầu hắn rất bóng, ria mép đen, ria má đen, cằm
cạo nhẵn, xẻ ở giữa, mình thon nhỏ, áo quần bảnh bao, và trông hắn có vẻ rất
thỏa mãn! Hắn nói đến văn phòng Bộ trưởng ngoại giao, về các vở kịch, các
thời thượng và sách mới, về những buổi dạ hội và khiêu vũ ở đó hắn đã hoài
công tìm các bà này. Vậy mà các bà lắng nghe hắn! Như thế mà cũng là
chuyện trò à? Sao hắn không thể nói, như bà mặc đồ đen nói với tôi, đến xứ
sở có những núi bằng kẹo đường, và sông bằng nước chanh?
Khi hắn đi rồi, bà mặc đồ đen bảo hắn là một thanh niên có duyên. Tôi
thì tôi bảo hắn ta già và xấu xí. Cái đó khiến bà mặc đồ trắng cười phá lên.
Mà có gì đáng cười đâu nhỉ? Nhưng thế đó, bà ta cười vì điều tôi bảo, hoặc
bà chẳng nghe tôi nói. Bà mặc đồ trắng có hai tính xấu ấy, không kể một tính
xấu thứ ba làm tôi thất vọng: là khóc, khóc, khóc. Mẹ bảo người lớn không
bao giờ khóc. À! Là vì mẹ đã không nhìn thấy như tôi bà mặc đồ trắng đó,
đổ nghiêng người trên ghế bành, một lá thư mở trên đầu gối, đầu ngửa ra và
khăn tay để trên mắt. Lá thư ấy (ngày nay tôi sẽ cuộc rằng đó là một lá thư
nặc danh) làm bà khổ lắm. Thật tai hại, vì bà thường cười vui thế! Hai cuộc
đến thăm ấy khiến tôi nảy ra ý định xin cưới bà ta. Bà bảo bà có một ông
chồng lớn ở Tàu, bà sẽ có một chồng nhỏ ở phố bờ sông Malaquais; thế là
thu xếp xong, và bà cho tôi một chiếc bánh ngọt.
Nhưng cái ông ria má đen thường trở lại luôn. Một hôm, khi bà mặc đồ
trắng kể chuyện bà sẽ cho đem từ bên Tàu về cho tôi những con cá xanh lam
với một chiếc cần để câu những con cá ấy thì hắn cho vào báo hắn đến và
được tiếp. Xem cái kiểu chúng tôi nhìn nhau thì rõ là chúng tôi không ưa
nhau. Bà mặc đồ trắng bảo hắn rằng cô bà (bà muốn nói bà mặc đồ đen) đi
[4]
mua gì đó ở Hai Ông Phỗng .Tôi nhìn hai ông phỗng trên lò sưởi và không
nghĩ được phải đi đâu mua gì cho họ. Nhưng ngày nào cũng có những
chuyện rất là khó hiểu! Ông kia không có vẻ buồn chút nào vì sự vắng mặt
của bà mặc đồ đen, và hắn bảo bà mặc đồ trắng rằng hắn muốn nói chuyện
đứng đắn với bà. Bà ngồi đỏm dáng trên tràng kỷ nhỏ và ra hiệu là bà nghe
hắn. Nhưng hắn nhìn tôi và có vẻ lúng túng.
- Chú bé này ngoan lắm, - sau cùng hắn vừa nói, vừa đưa tay xoa đầu
tôi, - nhưng…
- Chồng nhỏ của tôi đấy, - bà mặc đồ trắng nói.
- Này! - Ông kia láy lại. - Thế bà không thể trả chú về cho mẹ chú ư?
Điều tôi sẽ nói với bà chỉ có bà nghe được thôi.
Bà nhượng bộ hắn.
- Báu ơi,- bà bảo tôi, - báu sang chơi bên buồng ăn, và chỉ khi nào tôi
gọi báu hãy trở lại. Đi, báu nhé!
Tôi sang đấy, lòng nặng trĩu. Tuy nhiên nhìn cảnh buồng ăn rất kỳ thú,
vì trong buồng có chiếc đồng hồ mặt là một bức tranh vẽ một ngọn núi ở bờ
biển và một nhà thờ nổi bật dưới một bầu trời xanh biếc. Lúc chuông báo
giờ, chiếc tàu thủy bập bềnh trên mặt sông, chiếc đầu tàu kéo các toa ra khỏi
một đường hầm và chiếc khí cầu bay lên cao. Song khi lòng buồn thì chẳng
gì làm vui được. Vả chăng mặt đồng hồ lại nằm im. Hình như đầu tàu, tàu
thủy và khí cầu chỉ khởi hành mỗi giờ một lần, và một giờ thì thật là lâu! Ít
nhất lâu vào lúc ấy. May thay, chị làm bếp đến tìm một cái gì ở tủ buýp phê
và; thấy tôi buồn thiu, cho tôi mứt quả, xoa dịu những buồn phiền trong lòng
tôi. Nhưng khi hết mứt rồi, tôi lại buồn như trước. Mặc dầu chuông đồng hồ
chưa đánh, tôi tưởng tượng hàng giờ và hàng giờ đã chồng chất lên nỗi cô
đơn buồn bã của tôi. Từng lúc tôi nghe từ buồng bên một vài tiếng nói to của
ông kia; hắn van nài bà mặc đồ trắng rồi hình như hắn nổi giận với bà. Cho
đáng kiếp! Nhưng họ sẽ không bao giờ chấm dứt chuyện trò à? Tôi dán mũi
vào kính cửa, tôi rút các sợi cứng ở ghế dựa, tôi khoét rộng các lỗ ở giấy bồi
tường, tôi bứt diềm của các màn che, nào tôi biết gì nữa? Chán chường là
một điều ghê gớm. Sau cùng, không chịu được nữa, tôi lặng lẽ tiến đến cửa
vào buồng các ông phỗng và vươn cánh tay lên để với tới quả nắm cửa. Tôi
biết rõ là tôi đang có một hành động thô bạo và xấu xa, nhưng ngay điều đó
cũng làm cho tôi có một chút gì như hiếu danh.
Tôi mở cửa và thấy bà mặc đồ trắng đang đứng tựa lưng vào lò sưởi.
Ông kia, quỳ dưới chân bà, dang rộng hai tay như để ôm lấy bà. Mặt hắn đỏ
hơn mào gà trống, mắt hắn lồi ra. Người ta lại có thể đến tình trạng thế ư?
- Thôi đi, ông, - bà mặc đồ trắng nói, mặt đỏ hồng hơn bao giờ hết và tỏ
ra hết sức xúc động. - Xin ông thôi đi, vì ông bảo rằng ông yêu tôi. Thôi đi
để tôi khỏi phải hối tiếc…
Bà có vẻ sợ hắn và đã kiệt sức.
Hắn vội đứng dậy khi trông thấy tôi; và tôi tin hắn thoáng có ý nghĩ
quẳng tôi qua cửa sổ. Nhưng bà áo trắng, đáng lẽ mắng mỏ như tôi chờ đợi,
lại ôm ghì tôi vào lòng mà gọi tôi là người yêu của bà.
Bế tôi lên trường kỷ rồi, bà khóc hồi lâu rất êm ái bên má tôi. Chỉ có
hai chúng tôi thôi. Để an ủi bà, tôi bảo rằng ông ria má đen là một người xấu
và nếu bà cứ ở một mình với tôi, như đã thỏa thuận thì bà sẽ chẳng có
chuyện buồn. Nhưng, có ăn thua gì đâu, tôi thấy người lớn đôi khi thật buồn
cười.
Chúng tôi chưa hoàn hồn thì bà mặc đồ đen bước vào với những gói
bọc.
Bà hỏi có ai đến không.
- Ông Arnould đến, - bà mặc đồ trắng thản nhiên đáp, - nhưng ông ấy
chỉ ở lại có một tí.
Tôi biết đó là một lời nói dối, song vị phúc thần của bà mặc đồ trắng,
hẳn là đi với tôi từ nãy đến giờ, đã đặt ngón tay vô hình lên miệng tôi.
Tôi đã không gặp lại ông Arnould, và cuộc tình duyên của tôi với bà
mặc đồ trắng không bị quấy rầy nữa; hẳn là vì thế nên tôi đã không nhớ
chuyện ấy. Cho đến hôm qua, nghĩa là sau hơn ba mươi năm, tôi còn không
biết bà ta bây giờ ra sao.
Hôm qua, tôi đến dự khiêu vũ ở nhà ông Bộ trưởng ngoại giao. Tôi cũng
nghĩ như ông Palmerston, nếu không có những thú vui thì cuộc sống còn dễ
chịu. Công việc hàng ngày của tôi không vượt quá sức lực cũng không quá
trí tuệ của tôi, và tôi thấy thích thú. Chính những cuộc tiếp khách long trọng
làm tôi mệt lử. Tôi biết đến khiêu vũ nhà ông bộ trưởng sẽ chán ngấy và vô
ích; tôi biết thế mà tôi cứ đến, vì bản chất con người là suy nghĩ khôn và
hành động dại.
Tôi vừa bước vào phòng khách lớn thì nghe người ta giới thiệu đại sứ và
phu nhân. Tôi đã nhiều lần gặp ông đại sứ có nét mặt thanh tú mang dấu vết
những mệt mỏi không phải tất cả đều do công việc ngoại giao. Người ta nói
rằng hồi thanh xuân, ông đại sứ có nhiều cuộc tình duyên và trong những
cuộc họp mặt của bọn đàn ông với nhau, người ta bàn tán về những chuyện
trăng gió của ông ta.
Thời gian ông ở bên Tàu, ba mươi năm trước, thì đặc biệt phong phú về
những chuyện mà người ta ưa đóng kín cửa với nhau trong khi uống cà phê.
Bà vợ, mà tôi không có hân hạnh được quen, xem chừng đã quá năm mươi.
Bà mặc toàn đồ đen, những đăng ten rất đẹp bao phủ rất khéo sắc đẹp đã qua
của bà, nhưng như vẫn còn phảng phất. Tôi sung sướng được giới thiệu với
và, và tôi vô cùng ưa thích nói chuyện với phụ nữ có tuổi. Chúng tôi nó
nghìn chuyện, trong tiếng vĩ cầm đưa đẩy các phụ nữ trẻ khiêu vũ, và quẩn
quanh ngẫu nhiên, bà nói với tôi đến hồi bà ở một tòa nhà cổ phố bờ sông
Malaquais.
- Bà là bà mặc đồ trắng! - Tôi kêu lên.
- Quả thế thật, thưa ông, - bà bảo tôi. - Hồi bấy giờ tôi luôn luôn mặc đồ
trắng.
- Còn tôi, thưa bà, tôi đã là chồng nhỏ của bà.
- Sao! Thưa ông, ông là con cụ bác sĩ Nozière ưu tú đó ư? Ngày trước
ông thích bánh ngọt lắm. Ông còn thích không? Vậy mời ông đến ăn ở nhà
chúng tôi. Thứ bảy nào chúng tôi cũng có một tiệc trà nhỏ thân mật. Chúng
ta gặp lại nhau, hay thật!
- Thế còn bà mặc đồ đen?
- Bây giờ tôi là bà mặc đồ đen. Bà cô tội nghiệp của tôi mất năm xảy ra
chiến tranh. Trong những năm cuối đời bà, bà thường nhắc đến ông.
Trong khi chúng tôi chuyện trò như vậy, một ông ria mép và ria má bạc
trắng kính cẩn chào bà đại sứ với tất cả điệu bộ duyên dáng khệnh khạng của
một lão già đỏm trai. Hình như tôi nhận ra cái cằm của ông ta.
- Ông Arnould, - bà đại sứ bảo tôi, - một ông bạn già.
III
MẸ CHO CON BÔNG HOA HỒNG NÀY
Chúng tôi ở trong một căn nhà rộng đầy những vật kỳ dị. Trên tường,
dưới những sọ người và bộ tóc là những cụm binh khí man rợ. Trên trần treo
những chiếc thuyền độc mộc cùng với tay chèo, kề cạnh với những con cá
sấu nhồi rơm, tủ kính bày đầy những chim, tổ chim, san hô và vô vàn bộ
xương bé nhỏ tựa hồ chứa chấp rất nhiều sự hằn thù và ác ý. Tôi không hiểu
cha tôi đã có giao ước gì với những con vật kỳ quái đó, ngày nay, tôi mới
hiểu: đây là sự giao ước của một người thích sưu tầm. Cha tôi, con người rất
khôn ngoan và không hề hám lợi, mơ tưởng nhét cả thiên nhiên vào trong
chiếc tủ. Đấy là vì lợi ích khoa học, cha tôi nói thế, tin như thế, nhưng sự
thực chính là do cái tật của người thích sưu tầm.
Toàn bộ căn nhà đầy những vật kỳ dị hiếm có của thiên nhiên. Chỉ trừ
phòng khách nhỏ hẹp là không bị thực vật học, khoáng vật học, chủng tộc
học và biến thái học chiếm cứ, ở đây không có vẩy rắn, mu rùa, không có
xương cốt, mũi tên bằng đá,mũi đinh ba mà chỉ có hoa hồng. Khắp căn
phòng khách đều dán giấy in hoa hồng. Ðây là những bông hoa hồng còn nụ,
cánh còn khép chặt khiêm tốn, tất cả như nhau và tất cả đều xinh đẹp.
Mẹ tôi, vốn có những mối tư thù đối với ngành thực vật học so sánh và
việc đo sọ người, suốt cả ngày ngồi trong phòng khách trước bàn để đồ khâu.
Tôi chơi quanh quẩn gần mẹ trên chiếc thảm, với một con cừu chỉ còn ba
chân sau khi đã có bốn chân, điều đó làm cho nó không xứng đáng được
chen vai thích cánh với những con thỏ hai đầu trong bộ sưu tập về biến thái
học của cha tôi; tôi còn có thêm một con rối có thể cử động hai tay nhưng
sặc mùi sơn, những giờ phút đó, tôi đã phải để cho trí tưởng tượng bay bổng
rất nhiều vì đối với tôi, con rối và con cừu đã trở thành những nhân vật khác
nhau trong hàng ngàn màn kịch kỳ thú. Lúc có điều gì xảy ra với con cừu và
con rối làm cho tôi thích thú, tôi lại mách cho mẹ tôi biết. Nhưng lúc nào
cũng chỉ là uổng công thôi. Cần phải nhận xét rằng người lớn không bao giờ
hiểu những điều trẻ con giải thích. Mẹ tôi lại đãng trí nữa. Mẹ tôi không chú
ý nghe tôi nói. Đấy là một nhược điểm rất lớn. Nhưng mẹ tôi có một cách trố
mắt ...
do Bookaholic Club chế bản theo Dự án chế bản Ebook (Making Ebook
Project).
Mong rằng ebook này sẽ mang đến cho bạn một tác phẩm Văn học hay,
giàu giá trị biểu cảm và nhân văn, với chất lượng cao. Chúng tôi luôn cố
gắng mang đến những chế bản ebook tốt nhất, nếu trong quá trình chế bản có
lỗi sai sót nào mong bạn góp ý và cho chúng tôi biết những ebook mà đang
mong muốn.
Making Ebook Project của Bookaholic Club là một hoạt động phi lợi
nhuận, nhằm mục đích mang đến những chế bản ebook hay, có giá trị với
chất lượng tốt nhất mà chúng tôi có thể với Cộng đồng đọc - người Việt. Tuy
nhiên, nếu bạn có khả năng xin hãy đọc tác phẩm này bằng sách trước hết vì
lợi ích cho Nhà xuất bản, bản quyền tác giả và góp phần phát triển xây dựng
nền Văn hóa đọc.
Hãy chỉ đọc chế bản này trong điều kiện bạn không thể tìm đến ấn
phẩm sách.
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ
LỜI GIỚI THIỆU
SÁCH CỦA PIERRE
NHỮNG NGƯỜI TÌNH ĐẦU
I
NHỮNG QUÁI VẬT
II
BÀ MẶC ĐỒ TRẮNG
III
MẸ CHO CON BÔNG HOA HỒNG NÀY
IV
CÁC CON VUA ÉDOUARD
V
CHÙM NHO
VI
MARCELLE MẮT VÀNG
VII
GHI CHÉP VÀO LÚC BÌNH MINH
NHỮNG TÌNH DUYÊN MỚI
I
NƠI ẨN DẬT Ở VƯỜN BÁCH THẢO
II
BỐ LE BEAU
III
BÀ NỘI NOZIÈRE
IV
CÁI RĂNG
V
PHÁT HIỆN RA THƠ
VI
TEUTOBOCHUS
VII
UY TÍN CỦA CHA VIỆN TRUỞNG JUBAL
VIII
CHIẾC MŨ CÁT KÉT CỦA FONTANET
IX
NHỮNG LỜI TRĂNG TRỐI CUỐI CÙNG CỦA DÉCIUS MUS
X
CỔ VĂN HỌC
XI
RỪNG SIM
XII
CÁI BÓNG
SÁCH CỦA SUZANNE
SUZANNE
I
CON GÀ TRỐNG
II
NHỮNG TÂM HỒN TỐI TĂM
III
NGÔI SAO
IV
GUIGNOL
BẠN BÈ CỦA SUZANNE
I
ANDRÉ
II
PIERRE
III
JESSY
TỦ SÁCH CỦA SUZANNE
I
GỬI BÀ DXXX
II
ĐỐI THOẠI VỀ NHỮNG CHUYỆN THẦN TIÊN LAURE,
OCTAVE, RAYMOND
GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ
Anatole France (tên thật là François-Anatole Thibault, 16 tháng 4 năm
1844 – 13 tháng 10 năm 1924) sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng
sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas.
Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập
thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng
tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của
Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm
Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le
Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống
văn học).
Những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tư tưởng và sáng tác của
Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan sát
để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông
thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy
vong của chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội
đương đại, đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais
và Voltaire, phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương
xót những kẻ gây chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao
giải Nobel Văn học vì “những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế,
chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực”…
A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận
đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo
tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire.
Tác phẩm chính:
- Những câu thơ vàng (Poèmes dorés, 1873), thơ.
- Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, 1881),
tiểu thuyết.
- Sách của bạn tôi (Le Livre de mon ami, 1885), hồi ký.
- Bông huệ đỏ (Le lys rouge, 1894), tiểu thuyết.
- Vườn Epicure (Le jardin d'Epicure, 1894), tập cách ngôn.
- Lịch sử hiện đại (L'histoire contemporaine), gồm 4 tiểu thuyết:
+ Cây du trên đường dạo chơi (L'orme du mail, 1897)
+ Hình người bằng cây liễu (Le mannquin d'osier, 1897)
+ Chiếc nhẫn tử thạch anh (L'anneau d'amethyste, 1899)
+ Ông Bergeret ở Paris (Monsieur Bergeret à Paris, 1901)
- Hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, 1912), tiểu thuyết
- Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, 1914), tiểu thuyết.
Những tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam:
- Quyển truyện của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Vũ Thị Hay và
Lê Ngọc Trụ dịch, Trung tâm Học liệu xuất bản, 1962, tái bản 1972
- Sách của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Hướng Minh dịch và
giới thiệu, NXB Văn Học, 1988, tái bản 2009.
- Đảo Panhgoanh (L'Île des Pingouins tiểu thuyết), Nguyễn Văn Thường
dịch, NXB Văn Học, 1982.
- Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, tiểu thuyết), Đoàn Phú Tứ
dịch, NXB Văn Học, 1987.
- Bông huệ đỏ (Le lys rouge, tiểu thuyết), Nguyễn Trọng Định dịch,
NXB Phụ Nữ, 1989.
- Các hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, tiểu thuyết), Trần Mai
Châu dịch, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1990.
- Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu
thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1996.
- Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu
thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001.
- Thais- Vũ nữ thoát tục, (Thaïs, tiểu thuyết), Hoàng Minh Thức dịch,
NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1989.
- Mối tình người thợ gốm, (tập truyện ngắn), Nxb Văn học, Hà Nội
1987.
LỜI GIỚI THIỆU
Anatole France (1844-1924) tên thật là Anatole Thibault, nhà văn hiện
thực và nhân đạo chủ nghĩa Pháp. Ông sinh ra tại Paris trong một gia đình có
cửa hàng bán sách, nơi lui tới của nhiều nhà văn và nghệ sĩ nổi tiếng lúc bấy
giờ. Chú bé Anatole ham mê sách và văn học, nghệ thuật từ đó.
Anatole France là người chịu ảnh hưởng của phái Pascal, tác phẩm đầu
tay là một tập thơ. Sau đó, hình tượng nhân vật Sylvestre Bonnard trong tiểu
thuyết nổi tiếng Tội ác của Sylvestre Bonnard (1881) mở đầu cho một loạt
nhân vật biểu hiện tư tưởng, tình cảm và tâm hồn nhà văn. Ðó là những con
người rất dễ thương, yêu đời và yêu con người, ham mê sách vở khoa học và
nghệ thuật, sống thoải mái với một tấm lòng cởi mở, một chủ nghĩa nhân đạo
nhe nhàng, chút ít châm biếm và hoài nghi. Nhà văn phê phán tôn giáo và
nhà thờ làm mê muội con người, phê phán lối sống hẹp hòi, đạo đức giả, bất
công và tàn nhẫn.
Những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, chịu ảnh hưởng sâu sắc của
“Sự kiện Dreyfus” và Cách mạng Nga 1905, sự nghiệp văn chương của A.
France chuyển hướng mạnh mẽ. Trong thời kì sáng tác này, ông viết về
những sự kiện lịch sử và xã hội đang biến diễn, tiếp tục truyền thống nhân
văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire, phê phán nền Cộng hoà thứ ba của
Pháp, lên án chủ nghĩa thực dân và chế độ phân biệt chủng tộc...
Năm 1921, Anatole France được trao giải Nobel văn học vì những tác
phẩm xuất sắc mang phong cách tính tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí
chất Gauloir đích thực.
Sách của bạn tôi (1885) là một trong những tác phẩm tự truyện của
Anatole France và theo như lời tác giả nói ở đầu sách thì đây là cuốn sách
được ông viết vào “giữa quãng đường đời” của mình. Phần đầu tác phẩm
miêu tả quá trình phát triển nội tâm của nhân vật chính – chú bé Pierre
Nozière, đặc biệt là các mối quan hệ của chú với xã hội, những con người đã
đi qua tuổi thơ của chú và in vào tâm hồn chú những hình ảnh đẹp không
phai mờ. Phần sau của tác phẩm tập hợp những bài viết của Pierre về cô con
gái nhỏ khi anh đã trở thành bố và để ý, quan sát những cử chỉ, động tác của
con mình.
Đặc điểm nổi bật trong văn phong của A. France là tính trong sáng tuyệt
vời, nhẹ nhàng và nên thơ, đầy nhạc điệu, sâu sắc và dí dỏm, hài hước, biểu
lộ một tâm hồn yêu con người thắm thiết, phát huy truyền thống của Pascal,
Racine, Flaubert. Ông được coi là nhà văn Pháp mẫu mực về sự trong sáng
của ngôn ngữ.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Nhà xuất bản Văn học
SÁCH CỦA PIERRE
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
31 tháng Chạp năm 188…
Nel mezzo del cammin di nostra vita…
Giữa quãng đường đời….
Câu thơ ấy, câu mà Dante mở bài thánh ca thứ nhất của Thần khúc, trở
lại tâm trí tôi, tối nay, có lẽ là lần thứ một trăm. Nhưng đây là lần đầu nó làm
tôi xúc động.
Thích thú biết bao, tôi thầm nhắc lại câu thơ ấy, và tôi thấy nó nghiêm
chỉnh và đầy ý nghĩa! Là bởi lần này tôi có thể áp dụng nó cho bản thân tôi.
Đến lượt mình, tôi ở vào thời điểm của Dante xưa kia khi mặt trời già nua
đánh dấu năm đầu của thế kỷ mười bốn. Tôi đang ở giữa quãng đường đời,
giả dụ con đường ấy đối với tất cả mọi người đến dài như nhau và đều đưa
tới tuổi già.
Trời ơi! Tôi đã biết, hai mươi năm trước, rằng sẽ phải tới bước này, tôi
biết thế, nhưng tôi đã không cảm thấy thế. Lúc bấy giờ tôi quan tâm quãng
nửa đường đời như tới con đường đi tới Chicago. Giờ đây đã leo hết sườn
núi, tôi ngoảnh đầu lại để nhìn bao quát cả khoảng không mà tôi đã băng qua
nhanh chóng chừng nào, và câu thơ của thi sĩ thành Florence bỗng khiến tôi
triền miên suy tưởng đến đỗi tôi sẵn lòng ngồi thâu đêm trước ngọn lửa để
khêu dậy những bóng ma. Hỡi ôi! Những người chết sao mà nhẹ vậy!
Hồi tưởng thật là êm dịu. Yên lặng ban đêm khêu gợi hồi tưởng. Tịch
mịch ban đêm thuần hóa những hồn ma bản chất vốn dút dát, lẩn trốn và
muốn có bóng tối vắng vẻ để đến thì thầm cùng những bạn bè đương sống.
Các rèm cửa sổ đã kéo, các màn cửa buông nếp nặng trên mặt thảm. Chỉ có
một cánh cửa hé mở, nơi kia, phía mắt tôi tự nhiên quay lại. Ở đấy thoát ra
một ánh sáng xanh mờ nhạt, từ đấy đưa lại những hơi thở đều và êm, mà
chính tôi cũng khó phân biệt được hơi thở của mẹ và của các con.
Ngủ đi, những người yêu dấu ngủ đi!
Nel mezzo del cammin di nostra vita…
Bên bếp lửa tàn, tôi mơ màng và tưởng tượng cái nhà gia đình này, với
căn buồng trong đó rung rinh mờ sáng ngọn đèn khuya, và từ đó thoát ra
những hơi thở trong trẻo kia, là một quán trọ lẻ loi trên con đường cái lớn mà
tôi đã đi tới nửa chừng.
Ngủ đi, những người yêu dấu, ngày mai ta lại lên đường!
Ngày mai! Có một thời, từ ngữ ấy đối với tôi chứa đựng cái điều huyền
bí, đẹp đẽ nhất. Đọc nó lên, tôi nhìn thấy những bộ mặt không quen và
duyên dáng giơ ngón tay ra hiệu cho tôi và thì thào: “Lại đây!” Bấy giờ, tôi
yêu cuộc sống biết bao! Tôi đặt vào nó lòng tin đẹp đẽ của một gã si tình, và
tôi không nghĩ rằng cuộc sống có thể trở thành nghiệt ngã với tôi, mặc dù nó
vốn là tàn nhẫn.
Tôi không oán trách nó. Nó đã không gây cho tôi những vết thương như
nó đã gây cho bao người khác. Đôi khi ngẫu nhiên còn vuốt ve tôi nữa, cái
cô nàng đại thờ ơ ấy! Đánh đổi cái gì nó đã lấy đi hay từ chối tôi, nó đã cho
tôi những kho báu mà đem so sánh thì tất cả những gì tôi mong muốn chỉ là
tro tàn và khói bụi. Dù sao mặc lòng, tôi đã hết trông mong, và bây giờ tôi
không thể nghe nói: “Đến mai!” mà không có một cảm giác lo âu và buồn
bã.
Không! Tôi không còn tin tưởng ở cô bạn cũ cuộc sống nữa. Tôi vẫn
yêu đời. Chừng nào tôi nhìn thấy tia sáng thần diệu của cuộc sống lung linh
trên ba vầng trán trong trắng, trên ba vầng trán yêu thương, tôi vẫn bảo đời là
đẹp và tôi vẫn ca ngợi cuộc sống.
Có những giờ phút mà cái gì cũng khiến tôi ngạc nhiên, những giờ phút
mà những sự vật đơn giản nhất cũng đem cho tôi cái rợn mình của điều
huyền bí.
Bởi thế, lúc này, tôi thấy hình như ký ức là một tư chất tuyệt diệu và cái
năng khiếu tái hiện quá khứ cũng dễ làm ta kinh ngạc và còn quý hơn nhiều
cái năng khiếu dự đoán tương lai.
Kỷ niệm thực là một ân huệ. Đêm yên tĩnh, tôi đã vun các mẩu củi trong
lò sưởi và nhóm lại lửa.
Ngủ đi, những người yêu dấu, ngủ đi!
Tôi viết hồi ký tuổi thơ và đó là để TẶNG CẢ BA NGƯỜI YÊU DẤU!
NHỮNG NGƯỜI TÌNH ĐẦU
I
NHỮNG QUÁI VẬT
Những người bảo tôi rằng họ không nhớ tí gì về những năm đầu tuổi thơ
của mình khiến tôi rất ngạc nhiên. Về phần tôi, tôi còn giữ những ký ức tươi
sáng về cái thời tôi còn là một chú bé rất nhỏ. Thực ra, đó là những hình
bóng lẻ loi, song chính vì thế nó lại càng nổi bật lên trên một cái nền tối mờ
và bí hiểm. Mặc dầu tôi khá xa tuổi già, những ký ức yêu dấu đó hình như
đến với tôi từ một quá khứ vô cùng sâu thẳm. Tôi hình dung thế giới bây giờ
đương ở độ mới mẻ rạng rỡ và bao phủ toàn màu sắc tươi mát. Nếu là một kẻ
man di, tôi sẽ tin rằng thế giới cũng trẻ, hay tùy ý bạn, cũng già như tôi vậy.
Song không may tôi không là một kẻ man di. Tôi đã đọc nhiều sách về thời
thái cổ của trái đất và nguồn gốc muôn loài, và tôi buồn rầu so sánh cuộc đời
ngắn ngủi của cá nhân với sự tồn tại lâu dài của các chủng tộc. Cho nên tôi
biết chẳng lâu lắm đâu, tôi có một chiếc giường thành nhỏ trong một căn
buồng lớn của một ngôi nhà cổ rất cũ nát, ngôi nhà ấy đã bị phá để nhường
chỗ cho những tòa nhà mới của trường Mỹ thuật. Chính ở nơi đây cha tôi đã
sống, cha tôi là một thầy thuốc bình thường và rất thích sưu tập các vật lạ
thiên nhiên. Ai bảo trẻ con không có trí nhớ? Bây giờ tôi còn nhìn thấy căn
buồng ấy, với giấy bồi tường xanh lục vẽ hoa lá và một bức tranh khắc in rất
đẹp mô tả, như về sau tôi được biết, nàng Virginie được chàng Paul bồng
[1]
trên tay lội qua sông Đen . Trong căn buồng ấy đã có những chuyện mạo
hiểm phi thường xảy đến với tôi.
Như tôi đã nói, ở đấy tôi có một chiếc giường thành nhỏ kê ở trong một
góc và, mỗi tối, được mẹ tôi kéo ra đặt ngay giữa buồng, hẳn là để cho gần
giường mẹ, mà những tấm màn che mông mênh làm cho tôi vừa sợ hãi vừa
thán phục. Bảo tôi đi ngủ là cả một việc khó khăn. Và đã hết chuyện đâu:
Tôi mặc áo lót thoát ra và tôi nhảy như một con thỏ. Mẹ đuổi bắt lại tôi dưới
một cái gầm bàn để đặt tôi lên giường, thật là nhộn!
Nhưng tôi cứ vừa nằm xuống là có ngay những nhân vật hoàn toàn xa lạ
với gia đình bắt đầu đi diễu chung quanh tôi. Họ có những mũi mỏ cò, những
bộ ria lởm chởm, những cái bụng nhọn hoắt và những cẳng như cẳng gà
trống. Họ lộ nghiêng mặt, với một mắt tròn giữa má, và diễu hành, mang
chổi, xiên nướng thịt, đàn ghi ta, ống tiêm và vài dụng cụ kỳ lạ. Xấu xí như
họ thì đáng lẽ không nên lộ mặt, nhưng tôi phải thừa nhận một điều: Họ lặng
lẽ lướt đi dọc tường nhà và không một ai, cả đến chú bé nhất đi sau chót đeo
một cái bễ thổi lửa ở sau lưng, cũng không bao giờ tiến một bước đến
giường tôi. Rõ ràng là có một sức mạnh giữ họ trườn đi dọc theo tường mà
không phô ra một bè dày đáng kể. Điều đó làm cho tôi vững dạ một chút, vả
chăng, tôi vẫn thức. Hẳn bạn cũng thấy, nằm cạnh đám người như vậy thì
nhắm mắt sao được. Tôi mở mắt trân trân. Ấy thế mà (đó là một điều kỳ lạ
khác) tôi chợt lại thấy mình ở trong buồng đầy ánh nắng, nhìn ra chỉ thấy có
mẹ tôi mặc áo khoác hồng và không biết ban đêm với lũ quái vật đã biến đi
đâu mất.
- Con ngủ gì mà khiếp thế! – Mẹ cười bảo tôi.
Phải nói là tôi ngủ say thật.
Hôm qua, dạo vơ vẩn trên các phố bờ sông, tôi trông thấy ở cửa hàng
một người bán tranh khắc một quyển vở in những hình kỳ quái bây giờ đã
trở thành hiếm hoi, trong đó Callot, nhà họa sĩ xứ Lorrain, đã trổ tài với mũi
dao nhọn tế nhị và cứng rắn của ông. Hồi thơ ấu của tôi, một bà bán tranh in
- mẹ Mignot - ở cạnh nhà tôi đã phủ tranh kín cả một bức tường, và hàng
ngày tôi nhìn tranh, khi đi chơi và lúc trở về, mắt tôi được nuôi dưỡng bằng
những quái vật đó và khi nằm vào chiếc giường thành nhỏ của tôi, tôi lại
nhìn thấy chúng mà không nhận ra chúng. Ôi, ảo thuật của Jacques Callot!
Quyển vở nhỏ tôi lần giở đã đánh thức ở tôi cả một thế giới tan biến, và
tôi cảm thấy dâng lên trong tâm tưởng như một làn bụi thơm tho trong đó
những hình bóng yêu dấu đã trôi qua.
II
BÀ MẶC ĐỒ TRẮNG
Hồi đó có hai bà ở cũng nhà với chúng tôi, một bà mặc đồ trắng, một bà
toàn đồ đen.
Xin đừng hỏi hai bà ấy còn trẻ không, điều đó vượt quá sự hiểu biết của
tôi. Nhưng tôi biết các bà ấy thơm tho và có đủ mọi cung cách tế nhị. Mẹ tôi,
rất bận và không thích giao thiệp với hàng xóm, nên không đến nhà hai bà.
Nhưng tôi thì tôi đến luôn, nhất là vào giờ ăn quá trưa vì bà mặc đồ đen
thường cho tôi ăn bánh ngọt. Vậy là tôi cứ đến một mình. Phải đi qua sân.
Mẹ tôi đứng ở cửa sổ theo dõi tôi và gõ lên cửa kính khi nào tôi mải ngắm
bác đánh xe chải lông cho mấy con ngựa. Tốn sức lắm mới leo lên được cái
cầu thang lan can sắt, mà những bậc cao có phải làm cho đôi bắp chân nhỏ
của tôi đâu. Nhưng công của tôi không uổng một khi tôi vào căn phòng các
bà, vì trong đó có nghìn thứ cho tôi ngây ngất. Song không có gì bằng đôi
phỗng sứ ngồi trên lò sưởi; hai bên đồng hồ quả lắc. Tự chúng, chúng rụt đầu
và thè lưỡi. Người ta cho tôi biết chúng ở bên Tàu sang và tôi tự hứa sẽ đi tới
đó. Cái khó nhất là làm thế nào bảo chị vú em đưa tôi đến đấy. Tôi đã đinh
[2]
ninh rằng nước Tàu ở đằng sau Khải hoàn môn , nhưng tôi chưa bao giờ
có cách gì tiến đến tận đó.
Trong phòng các bà cũng có một cái thảm hoa, tôi thích thú lăn mình
trên đó, và một tràng kỷ nhỏ êm và sâu, mà tôi chơi khi làm tàu thủy, khi làm
ngựa hay xe. Bà mặc đồ đen, hơi béo thì phải, rất hiền và không bao giờ
mắng tôi. Bà mặc đồ trắng tinh hay sốt ruột và cộc cằn, nhưng bà cười mới
xinh chứ! Cả ba chúng tôi sống hòa thuận với nhau, và tôi đã dàn xếp trong
óc rằng bao giờ cũng sẽ chỉ có tôi được vào phòng phỗng sứ mà thôi. Bà mặc
đồ trắng mà tôi báo cho biết quyết định ấy, xem chừng hơi có vẻ giễu cợt tôi,
nhưng tôi nài nỉ và bà ấy hứa tất cả những gì tôi muốn.
Bà hứa như vậy. Thế mà một hôm, tôi thấy một ông ngồi vào tràng kỷ
của tôi, chân để lên thảm của tôi và nói chuyện với các bà, vẻ thỏa mãn. Hắn
còn đưa cho các bà một bức thư, các bà đọc rồi trả lại. Tôi không thích thế,
nên tôi đòi uống nước đường vì tôi khát và cũng để cho người ta chú ý đến
mình. Quả nhiên, ông kia nhìn tôi.
- Đây là một chú bé hàng xóm, - bà mặc đồ đen nói.
- Mẹ chú ấy chỉ có một mình chú thôi, có phải thế chăng? - Ông kia láy
lại.
- Đúng thế, - bà mặc đồ trắng nói. - Nhưng sao ông lại nghĩ như vậy?
- Vì chú có vẻ một đứa con rất được nuông chiều, - ông ấy láy lại. - Chú
ấy thóc mach và tò mò. Bây giờ chú đang mở mắt thao láo như hai cánh
cổng xe.
Ấy là để nhìn hắn cho kỹ. Tôi không muốn tự khoe, nhưng tôi rất hiểu,
sau câu chuyện, rằng bà mặc đồ trắng có một người chồng chức tước gì đó ở
một nước xa xôi, rằng ông khách đem đến một bức thư của người chồng ấy,
người ta cảm ơn sự giúp đỡ của ông, và người ta chúc mừng ông đã được bổ
nhiệm bí thư. Nhũng chuyện đó không làm tôi hài lòng và, khi ra về, tôi
không chịu hôn bà mặc đồ trắng, để phạt bà ta.
Bữa tối hôm đó, tôi hỏi cha tôi xem bí thư là cái gì. Cha tôi không trả
[3]
lời, và mẹ tôi bảo đó là một cái bàn gỗ nhỏ để xếp giấy tờ . Hiểu thế được
không? Tôi được bế đi ngủ, và các quái vật có mắt ở giữa má diễu hành
chung quanh giường tôi, mặt nhăn nhó hơn bao giờ hết.
Nếu bạn tưởng hôm sau tôi nghĩ đến cái ông thấy ở nhà bà mặc đồ trắng,
thì bạn lầm to, vì tôi đã quên khuấy hắn, và chỉ tùy ở hắn mà sẽ được xóa đi
vĩnh viễn khỏi trí nhớ tôi. Nhưng hắn cả gan lại dấn thân đến nhà hai bà bạn
tôi. Tôi không biết là mười hay mười lăm ngày sau cuộc đến thăm đầu tiên
của hắn. Ngày nay tôi thiên về ý nghĩ cho là mười ngày. Cái ông ấy chiếm
chỗ của tôi như thế, thật đến lạ. Lần này thì tôi ngắm nghía hắn, và chẳng
thấy hắn có vẻ gì dễ thương. Đầu hắn rất bóng, ria mép đen, ria má đen, cằm
cạo nhẵn, xẻ ở giữa, mình thon nhỏ, áo quần bảnh bao, và trông hắn có vẻ rất
thỏa mãn! Hắn nói đến văn phòng Bộ trưởng ngoại giao, về các vở kịch, các
thời thượng và sách mới, về những buổi dạ hội và khiêu vũ ở đó hắn đã hoài
công tìm các bà này. Vậy mà các bà lắng nghe hắn! Như thế mà cũng là
chuyện trò à? Sao hắn không thể nói, như bà mặc đồ đen nói với tôi, đến xứ
sở có những núi bằng kẹo đường, và sông bằng nước chanh?
Khi hắn đi rồi, bà mặc đồ đen bảo hắn là một thanh niên có duyên. Tôi
thì tôi bảo hắn ta già và xấu xí. Cái đó khiến bà mặc đồ trắng cười phá lên.
Mà có gì đáng cười đâu nhỉ? Nhưng thế đó, bà ta cười vì điều tôi bảo, hoặc
bà chẳng nghe tôi nói. Bà mặc đồ trắng có hai tính xấu ấy, không kể một tính
xấu thứ ba làm tôi thất vọng: là khóc, khóc, khóc. Mẹ bảo người lớn không
bao giờ khóc. À! Là vì mẹ đã không nhìn thấy như tôi bà mặc đồ trắng đó,
đổ nghiêng người trên ghế bành, một lá thư mở trên đầu gối, đầu ngửa ra và
khăn tay để trên mắt. Lá thư ấy (ngày nay tôi sẽ cuộc rằng đó là một lá thư
nặc danh) làm bà khổ lắm. Thật tai hại, vì bà thường cười vui thế! Hai cuộc
đến thăm ấy khiến tôi nảy ra ý định xin cưới bà ta. Bà bảo bà có một ông
chồng lớn ở Tàu, bà sẽ có một chồng nhỏ ở phố bờ sông Malaquais; thế là
thu xếp xong, và bà cho tôi một chiếc bánh ngọt.
Nhưng cái ông ria má đen thường trở lại luôn. Một hôm, khi bà mặc đồ
trắng kể chuyện bà sẽ cho đem từ bên Tàu về cho tôi những con cá xanh lam
với một chiếc cần để câu những con cá ấy thì hắn cho vào báo hắn đến và
được tiếp. Xem cái kiểu chúng tôi nhìn nhau thì rõ là chúng tôi không ưa
nhau. Bà mặc đồ trắng bảo hắn rằng cô bà (bà muốn nói bà mặc đồ đen) đi
[4]
mua gì đó ở Hai Ông Phỗng .Tôi nhìn hai ông phỗng trên lò sưởi và không
nghĩ được phải đi đâu mua gì cho họ. Nhưng ngày nào cũng có những
chuyện rất là khó hiểu! Ông kia không có vẻ buồn chút nào vì sự vắng mặt
của bà mặc đồ đen, và hắn bảo bà mặc đồ trắng rằng hắn muốn nói chuyện
đứng đắn với bà. Bà ngồi đỏm dáng trên tràng kỷ nhỏ và ra hiệu là bà nghe
hắn. Nhưng hắn nhìn tôi và có vẻ lúng túng.
- Chú bé này ngoan lắm, - sau cùng hắn vừa nói, vừa đưa tay xoa đầu
tôi, - nhưng…
- Chồng nhỏ của tôi đấy, - bà mặc đồ trắng nói.
- Này! - Ông kia láy lại. - Thế bà không thể trả chú về cho mẹ chú ư?
Điều tôi sẽ nói với bà chỉ có bà nghe được thôi.
Bà nhượng bộ hắn.
- Báu ơi,- bà bảo tôi, - báu sang chơi bên buồng ăn, và chỉ khi nào tôi
gọi báu hãy trở lại. Đi, báu nhé!
Tôi sang đấy, lòng nặng trĩu. Tuy nhiên nhìn cảnh buồng ăn rất kỳ thú,
vì trong buồng có chiếc đồng hồ mặt là một bức tranh vẽ một ngọn núi ở bờ
biển và một nhà thờ nổi bật dưới một bầu trời xanh biếc. Lúc chuông báo
giờ, chiếc tàu thủy bập bềnh trên mặt sông, chiếc đầu tàu kéo các toa ra khỏi
một đường hầm và chiếc khí cầu bay lên cao. Song khi lòng buồn thì chẳng
gì làm vui được. Vả chăng mặt đồng hồ lại nằm im. Hình như đầu tàu, tàu
thủy và khí cầu chỉ khởi hành mỗi giờ một lần, và một giờ thì thật là lâu! Ít
nhất lâu vào lúc ấy. May thay, chị làm bếp đến tìm một cái gì ở tủ buýp phê
và; thấy tôi buồn thiu, cho tôi mứt quả, xoa dịu những buồn phiền trong lòng
tôi. Nhưng khi hết mứt rồi, tôi lại buồn như trước. Mặc dầu chuông đồng hồ
chưa đánh, tôi tưởng tượng hàng giờ và hàng giờ đã chồng chất lên nỗi cô
đơn buồn bã của tôi. Từng lúc tôi nghe từ buồng bên một vài tiếng nói to của
ông kia; hắn van nài bà mặc đồ trắng rồi hình như hắn nổi giận với bà. Cho
đáng kiếp! Nhưng họ sẽ không bao giờ chấm dứt chuyện trò à? Tôi dán mũi
vào kính cửa, tôi rút các sợi cứng ở ghế dựa, tôi khoét rộng các lỗ ở giấy bồi
tường, tôi bứt diềm của các màn che, nào tôi biết gì nữa? Chán chường là
một điều ghê gớm. Sau cùng, không chịu được nữa, tôi lặng lẽ tiến đến cửa
vào buồng các ông phỗng và vươn cánh tay lên để với tới quả nắm cửa. Tôi
biết rõ là tôi đang có một hành động thô bạo và xấu xa, nhưng ngay điều đó
cũng làm cho tôi có một chút gì như hiếu danh.
Tôi mở cửa và thấy bà mặc đồ trắng đang đứng tựa lưng vào lò sưởi.
Ông kia, quỳ dưới chân bà, dang rộng hai tay như để ôm lấy bà. Mặt hắn đỏ
hơn mào gà trống, mắt hắn lồi ra. Người ta lại có thể đến tình trạng thế ư?
- Thôi đi, ông, - bà mặc đồ trắng nói, mặt đỏ hồng hơn bao giờ hết và tỏ
ra hết sức xúc động. - Xin ông thôi đi, vì ông bảo rằng ông yêu tôi. Thôi đi
để tôi khỏi phải hối tiếc…
Bà có vẻ sợ hắn và đã kiệt sức.
Hắn vội đứng dậy khi trông thấy tôi; và tôi tin hắn thoáng có ý nghĩ
quẳng tôi qua cửa sổ. Nhưng bà áo trắng, đáng lẽ mắng mỏ như tôi chờ đợi,
lại ôm ghì tôi vào lòng mà gọi tôi là người yêu của bà.
Bế tôi lên trường kỷ rồi, bà khóc hồi lâu rất êm ái bên má tôi. Chỉ có
hai chúng tôi thôi. Để an ủi bà, tôi bảo rằng ông ria má đen là một người xấu
và nếu bà cứ ở một mình với tôi, như đã thỏa thuận thì bà sẽ chẳng có
chuyện buồn. Nhưng, có ăn thua gì đâu, tôi thấy người lớn đôi khi thật buồn
cười.
Chúng tôi chưa hoàn hồn thì bà mặc đồ đen bước vào với những gói
bọc.
Bà hỏi có ai đến không.
- Ông Arnould đến, - bà mặc đồ trắng thản nhiên đáp, - nhưng ông ấy
chỉ ở lại có một tí.
Tôi biết đó là một lời nói dối, song vị phúc thần của bà mặc đồ trắng,
hẳn là đi với tôi từ nãy đến giờ, đã đặt ngón tay vô hình lên miệng tôi.
Tôi đã không gặp lại ông Arnould, và cuộc tình duyên của tôi với bà
mặc đồ trắng không bị quấy rầy nữa; hẳn là vì thế nên tôi đã không nhớ
chuyện ấy. Cho đến hôm qua, nghĩa là sau hơn ba mươi năm, tôi còn không
biết bà ta bây giờ ra sao.
Hôm qua, tôi đến dự khiêu vũ ở nhà ông Bộ trưởng ngoại giao. Tôi cũng
nghĩ như ông Palmerston, nếu không có những thú vui thì cuộc sống còn dễ
chịu. Công việc hàng ngày của tôi không vượt quá sức lực cũng không quá
trí tuệ của tôi, và tôi thấy thích thú. Chính những cuộc tiếp khách long trọng
làm tôi mệt lử. Tôi biết đến khiêu vũ nhà ông bộ trưởng sẽ chán ngấy và vô
ích; tôi biết thế mà tôi cứ đến, vì bản chất con người là suy nghĩ khôn và
hành động dại.
Tôi vừa bước vào phòng khách lớn thì nghe người ta giới thiệu đại sứ và
phu nhân. Tôi đã nhiều lần gặp ông đại sứ có nét mặt thanh tú mang dấu vết
những mệt mỏi không phải tất cả đều do công việc ngoại giao. Người ta nói
rằng hồi thanh xuân, ông đại sứ có nhiều cuộc tình duyên và trong những
cuộc họp mặt của bọn đàn ông với nhau, người ta bàn tán về những chuyện
trăng gió của ông ta.
Thời gian ông ở bên Tàu, ba mươi năm trước, thì đặc biệt phong phú về
những chuyện mà người ta ưa đóng kín cửa với nhau trong khi uống cà phê.
Bà vợ, mà tôi không có hân hạnh được quen, xem chừng đã quá năm mươi.
Bà mặc toàn đồ đen, những đăng ten rất đẹp bao phủ rất khéo sắc đẹp đã qua
của bà, nhưng như vẫn còn phảng phất. Tôi sung sướng được giới thiệu với
và, và tôi vô cùng ưa thích nói chuyện với phụ nữ có tuổi. Chúng tôi nó
nghìn chuyện, trong tiếng vĩ cầm đưa đẩy các phụ nữ trẻ khiêu vũ, và quẩn
quanh ngẫu nhiên, bà nói với tôi đến hồi bà ở một tòa nhà cổ phố bờ sông
Malaquais.
- Bà là bà mặc đồ trắng! - Tôi kêu lên.
- Quả thế thật, thưa ông, - bà bảo tôi. - Hồi bấy giờ tôi luôn luôn mặc đồ
trắng.
- Còn tôi, thưa bà, tôi đã là chồng nhỏ của bà.
- Sao! Thưa ông, ông là con cụ bác sĩ Nozière ưu tú đó ư? Ngày trước
ông thích bánh ngọt lắm. Ông còn thích không? Vậy mời ông đến ăn ở nhà
chúng tôi. Thứ bảy nào chúng tôi cũng có một tiệc trà nhỏ thân mật. Chúng
ta gặp lại nhau, hay thật!
- Thế còn bà mặc đồ đen?
- Bây giờ tôi là bà mặc đồ đen. Bà cô tội nghiệp của tôi mất năm xảy ra
chiến tranh. Trong những năm cuối đời bà, bà thường nhắc đến ông.
Trong khi chúng tôi chuyện trò như vậy, một ông ria mép và ria má bạc
trắng kính cẩn chào bà đại sứ với tất cả điệu bộ duyên dáng khệnh khạng của
một lão già đỏm trai. Hình như tôi nhận ra cái cằm của ông ta.
- Ông Arnould, - bà đại sứ bảo tôi, - một ông bạn già.
III
MẸ CHO CON BÔNG HOA HỒNG NÀY
Chúng tôi ở trong một căn nhà rộng đầy những vật kỳ dị. Trên tường,
dưới những sọ người và bộ tóc là những cụm binh khí man rợ. Trên trần treo
những chiếc thuyền độc mộc cùng với tay chèo, kề cạnh với những con cá
sấu nhồi rơm, tủ kính bày đầy những chim, tổ chim, san hô và vô vàn bộ
xương bé nhỏ tựa hồ chứa chấp rất nhiều sự hằn thù và ác ý. Tôi không hiểu
cha tôi đã có giao ước gì với những con vật kỳ quái đó, ngày nay, tôi mới
hiểu: đây là sự giao ước của một người thích sưu tầm. Cha tôi, con người rất
khôn ngoan và không hề hám lợi, mơ tưởng nhét cả thiên nhiên vào trong
chiếc tủ. Đấy là vì lợi ích khoa học, cha tôi nói thế, tin như thế, nhưng sự
thực chính là do cái tật của người thích sưu tầm.
Toàn bộ căn nhà đầy những vật kỳ dị hiếm có của thiên nhiên. Chỉ trừ
phòng khách nhỏ hẹp là không bị thực vật học, khoáng vật học, chủng tộc
học và biến thái học chiếm cứ, ở đây không có vẩy rắn, mu rùa, không có
xương cốt, mũi tên bằng đá,mũi đinh ba mà chỉ có hoa hồng. Khắp căn
phòng khách đều dán giấy in hoa hồng. Ðây là những bông hoa hồng còn nụ,
cánh còn khép chặt khiêm tốn, tất cả như nhau và tất cả đều xinh đẹp.
Mẹ tôi, vốn có những mối tư thù đối với ngành thực vật học so sánh và
việc đo sọ người, suốt cả ngày ngồi trong phòng khách trước bàn để đồ khâu.
Tôi chơi quanh quẩn gần mẹ trên chiếc thảm, với một con cừu chỉ còn ba
chân sau khi đã có bốn chân, điều đó làm cho nó không xứng đáng được
chen vai thích cánh với những con thỏ hai đầu trong bộ sưu tập về biến thái
học của cha tôi; tôi còn có thêm một con rối có thể cử động hai tay nhưng
sặc mùi sơn, những giờ phút đó, tôi đã phải để cho trí tưởng tượng bay bổng
rất nhiều vì đối với tôi, con rối và con cừu đã trở thành những nhân vật khác
nhau trong hàng ngàn màn kịch kỳ thú. Lúc có điều gì xảy ra với con cừu và
con rối làm cho tôi thích thú, tôi lại mách cho mẹ tôi biết. Nhưng lúc nào
cũng chỉ là uổng công thôi. Cần phải nhận xét rằng người lớn không bao giờ
hiểu những điều trẻ con giải thích. Mẹ tôi lại đãng trí nữa. Mẹ tôi không chú
ý nghe tôi nói. Đấy là một nhược điểm rất lớn. Nhưng mẹ tôi có một cách trố
mắt ...
 





