Tài nguyên dạy học

Ảnh ngẫu nhiên

GTS_DEP.jpg GTS_1.jpg 4y84h39sr9rpb9axtn099930f.jpg Hs_doc_sach_DEP.jpg GV_CAT.jpg 20180906_093527_1.jpg GV_CAT.jpg HS_DUOI_CO_1.jpg Gts_duoi_co_1.jpg Hdsd_tv.jpg Noi_qui.jpg KE_DUOI.jpg TRANG_TRI_SACH_1.jpg KHO_MO_DUOI_2.jpg TRANG_TRI_SACH_3.jpg TRUNG_BAY_DEP.jpg TRANG_TRI_TAP_CHI.jpg TRUNG_BAY_TAP_CHI.jpg TRUNG_BAY_SACH.jpg DOC_SACH_5.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý thầy cô

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS ĐĂNG HƯNG PHƯỚC - HUYỆN CHỢ GẠO - TỈNH TIỀN GIANG

    Nơi đó tình yêu

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    TRUYỆN TRANH

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Kim Quí
    Ngày gửi: 12h:56' 28-04-2024
    Dung lượng: 2.1 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Bạn đang đọc ebook SÁCH CỦA BẠN TÔI của tác giả Anatole France
    do Bookaholic Club chế bản theo Dự án chế bản Ebook (Making Ebook
    Project).


    Mong rằng ebook này sẽ mang đến cho bạn một tác phẩm Văn học hay,
    giàu giá trị biểu cảm và nhân văn, với chất lượng cao. Chúng tôi luôn cố
    gắng mang đến những chế bản ebook tốt nhất, nếu trong quá trình chế bản có
    lỗi sai sót nào mong bạn góp ý và cho chúng tôi biết những ebook mà đang
    mong muốn.


    Making Ebook Project của Bookaholic Club là một hoạt động phi lợi
    nhuận, nhằm mục đích mang đến những chế bản ebook hay, có giá trị với
    chất lượng tốt nhất mà chúng tôi có thể với Cộng đồng đọc - người Việt. Tuy
    nhiên, nếu bạn có khả năng xin hãy đọc tác phẩm này bằng sách trước hết vì
    lợi ích cho Nhà xuất bản, bản quyền tác giả và góp phần phát triển xây dựng
    nền Văn hóa đọc.


    Hãy chỉ đọc chế bản này trong điều kiện bạn không thể tìm đến ấn
    phẩm sách.

    MỤC LỤC


    GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ
    LỜI GIỚI THIỆU
    SÁCH CỦA PIERRE


    NHỮNG NGƯỜI TÌNH ĐẦU


    I


    NHỮNG QUÁI VẬT


    II


    BÀ MẶC ĐỒ TRẮNG


    III


    MẸ CHO CON BÔNG HOA HỒNG NÀY


    IV


    CÁC CON VUA ÉDOUARD


    V


    CHÙM NHO


    VI


    MARCELLE MẮT VÀNG


    VII


    GHI CHÉP VÀO LÚC BÌNH MINH


    NHỮNG TÌNH DUYÊN MỚI


    I


    NƠI ẨN DẬT Ở VƯỜN BÁCH THẢO



    II


    BỐ LE BEAU


    III


    BÀ NỘI NOZIÈRE


    IV


    CÁI RĂNG


    V


    PHÁT HIỆN RA THƠ


    VI


    TEUTOBOCHUS


    VII


    UY TÍN CỦA CHA VIỆN TRUỞNG JUBAL


    VIII


    CHIẾC MŨ CÁT KÉT CỦA FONTANET


    IX


    NHỮNG LỜI TRĂNG TRỐI CUỐI CÙNG CỦA DÉCIUS MUS


    X


    CỔ VĂN HỌC


    XI


    RỪNG SIM


    XII


    CÁI BÓNG


    SÁCH CỦA SUZANNE
    SUZANNE


    I


    CON GÀ TRỐNG


    II


    NHỮNG TÂM HỒN TỐI TĂM


    III


    NGÔI SAO


    IV


    GUIGNOL


    BẠN BÈ CỦA SUZANNE


    I


    ANDRÉ


    II


    PIERRE


    III


    JESSY


    TỦ SÁCH CỦA SUZANNE


    I


    GỬI BÀ DXXX


    II


    ĐỐI THOẠI VỀ NHỮNG CHUYỆN THẦN TIÊN LAURE,
    OCTAVE, RAYMOND


    GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ





    Anatole France (tên thật là François-Anatole Thibault, 16 tháng 4 năm
    1844 – 13 tháng 10 năm 1924) sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng
    sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas.
    Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập
    thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng
    tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của
    Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm
    Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le
    Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống
    văn học).


    Những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tư tưởng và sáng tác của
    Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan sát
    để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông
    thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy
    vong của chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội
    đương đại, đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais

    và Voltaire, phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương
    xót những kẻ gây chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao
    giải Nobel Văn học vì “những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế,
    chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực”…


    A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận
    đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo
    tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire.



    Tác phẩm chính:


    - Những câu thơ vàng (Poèmes dorés, 1873), thơ.


    - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, 1881),
    tiểu thuyết.


    - Sách của bạn tôi (Le Livre de mon ami, 1885), hồi ký.


    - Bông huệ đỏ (Le lys rouge, 1894), tiểu thuyết.


    - Vườn Epicure (Le jardin d'Epicure, 1894), tập cách ngôn.


    - Lịch sử hiện đại (L'histoire contemporaine), gồm 4 tiểu thuyết:


    + Cây du trên đường dạo chơi (L'orme du mail, 1897)


    + Hình người bằng cây liễu (Le mannquin d'osier, 1897)


    + Chiếc nhẫn tử thạch anh (L'anneau d'amethyste, 1899)


    + Ông Bergeret ở Paris (Monsieur Bergeret à Paris, 1901)


    - Hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, 1912), tiểu thuyết


    - Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, 1914), tiểu thuyết.



    Những tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam:



    - Quyển truyện của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Vũ Thị Hay và
    Lê Ngọc Trụ dịch, Trung tâm Học liệu xuất bản, 1962, tái bản 1972


    - Sách của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Hướng Minh dịch và
    giới thiệu, NXB Văn Học, 1988, tái bản 2009.


    - Đảo Panhgoanh (L'Île des Pingouins tiểu thuyết), Nguyễn Văn Thường
    dịch, NXB Văn Học, 1982.


    - Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, tiểu thuyết), Đoàn Phú Tứ
    dịch, NXB Văn Học, 1987.


    - Bông huệ đỏ (Le lys rouge, tiểu thuyết), Nguyễn Trọng Định dịch,
    NXB Phụ Nữ, 1989.


    - Các hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, tiểu thuyết), Trần Mai
    Châu dịch, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1990.


    - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu
    thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1996.


    - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu
    thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001.


    - Thais- Vũ nữ thoát tục, (Thaïs, tiểu thuyết), Hoàng Minh Thức dịch,
    NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1989.


    - Mối tình người thợ gốm, (tập truyện ngắn), Nxb Văn học, Hà Nội
    1987.










    LỜI GIỚI THIỆU



    Anatole France (1844-1924) tên thật là Anatole Thibault, nhà văn hiện
    thực và nhân đạo chủ nghĩa Pháp. Ông sinh ra tại Paris trong một gia đình có
    cửa hàng bán sách, nơi lui tới của nhiều nhà văn và nghệ sĩ nổi tiếng lúc bấy
    giờ. Chú bé Anatole ham mê sách và văn học, nghệ thuật từ đó.


    Anatole France là người chịu ảnh hưởng của phái Pascal, tác phẩm đầu
    tay là một tập thơ. Sau đó, hình tượng nhân vật Sylvestre Bonnard trong tiểu
    thuyết nổi tiếng Tội ác của Sylvestre Bonnard (1881) mở đầu cho một loạt
    nhân vật biểu hiện tư tưởng, tình cảm và tâm hồn nhà văn. Ðó là những con
    người rất dễ thương, yêu đời và yêu con người, ham mê sách vở khoa học và
    nghệ thuật, sống thoải mái với một tấm lòng cởi mở, một chủ nghĩa nhân đạo
    nhe nhàng, chút ít châm biếm và hoài nghi. Nhà văn phê phán tôn giáo và
    nhà thờ làm mê muội con người, phê phán lối sống hẹp hòi, đạo đức giả, bất
    công và tàn nhẫn.


    Những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, chịu ảnh hưởng sâu sắc của
    “Sự kiện Dreyfus” và Cách mạng Nga 1905, sự nghiệp văn chương của A.
    France chuyển hướng mạnh mẽ. Trong thời kì sáng tác này, ông viết về
    những sự kiện lịch sử và xã hội đang biến diễn, tiếp tục truyền thống nhân
    văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire, phê phán nền Cộng hoà thứ ba của
    Pháp, lên án chủ nghĩa thực dân và chế độ phân biệt chủng tộc...


    Năm 1921, Anatole France được trao giải Nobel văn học vì những tác
    phẩm xuất sắc mang phong cách tính tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí
    chất Gauloir đích thực.


    Sách của bạn tôi (1885) là một trong những tác phẩm tự truyện của
    Anatole France và theo như lời tác giả nói ở đầu sách thì đây là cuốn sách
    được ông viết vào “giữa quãng đường đời” của mình. Phần đầu tác phẩm
    miêu tả quá trình phát triển nội tâm của nhân vật chính – chú bé Pierre
    Nozière, đặc biệt là các mối quan hệ của chú với xã hội, những con người đã
    đi qua tuổi thơ của chú và in vào tâm hồn chú những hình ảnh đẹp không

    phai mờ. Phần sau của tác phẩm tập hợp những bài viết của Pierre về cô con
    gái nhỏ khi anh đã trở thành bố và để ý, quan sát những cử chỉ, động tác của
    con mình.


    Đặc điểm nổi bật trong văn phong của A. France là tính trong sáng tuyệt
    vời, nhẹ nhàng và nên thơ, đầy nhạc điệu, sâu sắc và dí dỏm, hài hước, biểu
    lộ một tâm hồn yêu con người thắm thiết, phát huy truyền thống của Pascal,
    Racine, Flaubert. Ông được coi là nhà văn Pháp mẫu mực về sự trong sáng
    của ngôn ngữ.


    Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


    Nhà xuất bản Văn học




    SÁCH CỦA PIERRE


    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    31 tháng Chạp năm 188…


    Nel mezzo del cammin di nostra vita…


    Giữa quãng đường đời….



    Câu thơ ấy, câu mà Dante mở bài thánh ca thứ nhất của Thần khúc, trở
    lại tâm trí tôi, tối nay, có lẽ là lần thứ một trăm. Nhưng đây là lần đầu nó làm
    tôi xúc động.


    Thích thú biết bao, tôi thầm nhắc lại câu thơ ấy, và tôi thấy nó nghiêm
    chỉnh và đầy ý nghĩa! Là bởi lần này tôi có thể áp dụng nó cho bản thân tôi.
    Đến lượt mình, tôi ở vào thời điểm của Dante xưa kia khi mặt trời già nua
    đánh dấu năm đầu của thế kỷ mười bốn. Tôi đang ở giữa quãng đường đời,
    giả dụ con đường ấy đối với tất cả mọi người đến dài như nhau và đều đưa
    tới tuổi già.


    Trời ơi! Tôi đã biết, hai mươi năm trước, rằng sẽ phải tới bước này, tôi
    biết thế, nhưng tôi đã không cảm thấy thế. Lúc bấy giờ tôi quan tâm quãng
    nửa đường đời như tới con đường đi tới Chicago. Giờ đây đã leo hết sườn
    núi, tôi ngoảnh đầu lại để nhìn bao quát cả khoảng không mà tôi đã băng qua
    nhanh chóng chừng nào, và câu thơ của thi sĩ thành Florence bỗng khiến tôi
    triền miên suy tưởng đến đỗi tôi sẵn lòng ngồi thâu đêm trước ngọn lửa để
    khêu dậy những bóng ma. Hỡi ôi! Những người chết sao mà nhẹ vậy!


    Hồi tưởng thật là êm dịu. Yên lặng ban đêm khêu gợi hồi tưởng. Tịch
    mịch ban đêm thuần hóa những hồn ma bản chất vốn dút dát, lẩn trốn và
    muốn có bóng tối vắng vẻ để đến thì thầm cùng những bạn bè đương sống.
    Các rèm cửa sổ đã kéo, các màn cửa buông nếp nặng trên mặt thảm. Chỉ có
    một cánh cửa hé mở, nơi kia, phía mắt tôi tự nhiên quay lại. Ở đấy thoát ra
    một ánh sáng xanh mờ nhạt, từ đấy đưa lại những hơi thở đều và êm, mà
    chính tôi cũng khó phân biệt được hơi thở của mẹ và của các con.


    Ngủ đi, những người yêu dấu ngủ đi!



    Nel mezzo del cammin di nostra vita…


    Bên bếp lửa tàn, tôi mơ màng và tưởng tượng cái nhà gia đình này, với
    căn buồng trong đó rung rinh mờ sáng ngọn đèn khuya, và từ đó thoát ra
    những hơi thở trong trẻo kia, là một quán trọ lẻ loi trên con đường cái lớn mà
    tôi đã đi tới nửa chừng.


    Ngủ đi, những người yêu dấu, ngày mai ta lại lên đường!


    Ngày mai! Có một thời, từ ngữ ấy đối với tôi chứa đựng cái điều huyền
    bí, đẹp đẽ nhất. Đọc nó lên, tôi nhìn thấy những bộ mặt không quen và
    duyên dáng giơ ngón tay ra hiệu cho tôi và thì thào: “Lại đây!” Bấy giờ, tôi
    yêu cuộc sống biết bao! Tôi đặt vào nó lòng tin đẹp đẽ của một gã si tình, và
    tôi không nghĩ rằng cuộc sống có thể trở thành nghiệt ngã với tôi, mặc dù nó
    vốn là tàn nhẫn.


    Tôi không oán trách nó. Nó đã không gây cho tôi những vết thương như
    nó đã gây cho bao người khác. Đôi khi ngẫu nhiên còn vuốt ve tôi nữa, cái
    cô nàng đại thờ ơ ấy! Đánh đổi cái gì nó đã lấy đi hay từ chối tôi, nó đã cho
    tôi những kho báu mà đem so sánh thì tất cả những gì tôi mong muốn chỉ là
    tro tàn và khói bụi. Dù sao mặc lòng, tôi đã hết trông mong, và bây giờ tôi
    không thể nghe nói: “Đến mai!” mà không có một cảm giác lo âu và buồn
    bã.


    Không! Tôi không còn tin tưởng ở cô bạn cũ cuộc sống nữa. Tôi vẫn
    yêu đời. Chừng nào tôi nhìn thấy tia sáng thần diệu của cuộc sống lung linh
    trên ba vầng trán trong trắng, trên ba vầng trán yêu thương, tôi vẫn bảo đời là
    đẹp và tôi vẫn ca ngợi cuộc sống.


    Có những giờ phút mà cái gì cũng khiến tôi ngạc nhiên, những giờ phút
    mà những sự vật đơn giản nhất cũng đem cho tôi cái rợn mình của điều
    huyền bí.


    Bởi thế, lúc này, tôi thấy hình như ký ức là một tư chất tuyệt diệu và cái
    năng khiếu tái hiện quá khứ cũng dễ làm ta kinh ngạc và còn quý hơn nhiều

    cái năng khiếu dự đoán tương lai.


    Kỷ niệm thực là một ân huệ. Đêm yên tĩnh, tôi đã vun các mẩu củi trong
    lò sưởi và nhóm lại lửa.


    Ngủ đi, những người yêu dấu, ngủ đi!


    Tôi viết hồi ký tuổi thơ và đó là để TẶNG CẢ BA NGƯỜI YÊU DẤU!



    NHỮNG NGƯỜI TÌNH ĐẦU



    I



    NHỮNG QUÁI VẬT



    Những người bảo tôi rằng họ không nhớ tí gì về những năm đầu tuổi thơ
    của mình khiến tôi rất ngạc nhiên. Về phần tôi, tôi còn giữ những ký ức tươi
    sáng về cái thời tôi còn là một chú bé rất nhỏ. Thực ra, đó là những hình
    bóng lẻ loi, song chính vì thế nó lại càng nổi bật lên trên một cái nền tối mờ
    và bí hiểm. Mặc dầu tôi khá xa tuổi già, những ký ức yêu dấu đó hình như
    đến với tôi từ một quá khứ vô cùng sâu thẳm. Tôi hình dung thế giới bây giờ
    đương ở độ mới mẻ rạng rỡ và bao phủ toàn màu sắc tươi mát. Nếu là một kẻ
    man di, tôi sẽ tin rằng thế giới cũng trẻ, hay tùy ý bạn, cũng già như tôi vậy.
    Song không may tôi không là một kẻ man di. Tôi đã đọc nhiều sách về thời
    thái cổ của trái đất và nguồn gốc muôn loài, và tôi buồn rầu so sánh cuộc đời
    ngắn ngủi của cá nhân với sự tồn tại lâu dài của các chủng tộc. Cho nên tôi
    biết chẳng lâu lắm đâu, tôi có một chiếc giường thành nhỏ trong một căn
    buồng lớn của một ngôi nhà cổ rất cũ nát, ngôi nhà ấy đã bị phá để nhường
    chỗ cho những tòa nhà mới của trường Mỹ thuật. Chính ở nơi đây cha tôi đã
    sống, cha tôi là một thầy thuốc bình thường và rất thích sưu tập các vật lạ
    thiên nhiên. Ai bảo trẻ con không có trí nhớ? Bây giờ tôi còn nhìn thấy căn
    buồng ấy, với giấy bồi tường xanh lục vẽ hoa lá và một bức tranh khắc in rất
    đẹp mô tả, như về sau tôi được biết, nàng Virginie được chàng Paul bồng

    [1]
    trên tay lội qua sông Đen . Trong căn buồng ấy đã có những chuyện mạo
    hiểm phi thường xảy đến với tôi.


    Như tôi đã nói, ở đấy tôi có một chiếc giường thành nhỏ kê ở trong một
    góc và, mỗi tối, được mẹ tôi kéo ra đặt ngay giữa buồng, hẳn là để cho gần
    giường mẹ, mà những tấm màn che mông mênh làm cho tôi vừa sợ hãi vừa
    thán phục. Bảo tôi đi ngủ là cả một việc khó khăn. Và đã hết chuyện đâu:
    Tôi mặc áo lót thoát ra và tôi nhảy như một con thỏ. Mẹ đuổi bắt lại tôi dưới
    một cái gầm bàn để đặt tôi lên giường, thật là nhộn!


    Nhưng tôi cứ vừa nằm xuống là có ngay những nhân vật hoàn toàn xa lạ
    với gia đình bắt đầu đi diễu chung quanh tôi. Họ có những mũi mỏ cò, những
    bộ ria lởm chởm, những cái bụng nhọn hoắt và những cẳng như cẳng gà
    trống. Họ lộ nghiêng mặt, với một mắt tròn giữa má, và diễu hành, mang
    chổi, xiên nướng thịt, đàn ghi ta, ống tiêm và vài dụng cụ kỳ lạ. Xấu xí như
    họ thì đáng lẽ không nên lộ mặt, nhưng tôi phải thừa nhận một điều: Họ lặng
    lẽ lướt đi dọc tường nhà và không một ai, cả đến chú bé nhất đi sau chót đeo
    một cái bễ thổi lửa ở sau lưng, cũng không bao giờ tiến một bước đến
    giường tôi. Rõ ràng là có một sức mạnh giữ họ trườn đi dọc theo tường mà
    không phô ra một bè dày đáng kể. Điều đó làm cho tôi vững dạ một chút, vả
    chăng, tôi vẫn thức. Hẳn bạn cũng thấy, nằm cạnh đám người như vậy thì
    nhắm mắt sao được. Tôi mở mắt trân trân. Ấy thế mà (đó là một điều kỳ lạ
    khác) tôi chợt lại thấy mình ở trong buồng đầy ánh nắng, nhìn ra chỉ thấy có
    mẹ tôi mặc áo khoác hồng và không biết ban đêm với lũ quái vật đã biến đi
    đâu mất.


    - Con ngủ gì mà khiếp thế! – Mẹ cười bảo tôi.


    Phải nói là tôi ngủ say thật.


    Hôm qua, dạo vơ vẩn trên các phố bờ sông, tôi trông thấy ở cửa hàng
    một người bán tranh khắc một quyển vở in những hình kỳ quái bây giờ đã
    trở thành hiếm hoi, trong đó Callot, nhà họa sĩ xứ Lorrain, đã trổ tài với mũi
    dao nhọn tế nhị và cứng rắn của ông. Hồi thơ ấu của tôi, một bà bán tranh in
    - mẹ Mignot - ở cạnh nhà tôi đã phủ tranh kín cả một bức tường, và hàng
    ngày tôi nhìn tranh, khi đi chơi và lúc trở về, mắt tôi được nuôi dưỡng bằng
    những quái vật đó và khi nằm vào chiếc giường thành nhỏ của tôi, tôi lại

    nhìn thấy chúng mà không nhận ra chúng. Ôi, ảo thuật của Jacques Callot!


    Quyển vở nhỏ tôi lần giở đã đánh thức ở tôi cả một thế giới tan biến, và
    tôi cảm thấy dâng lên trong tâm tưởng như một làn bụi thơm tho trong đó
    những hình bóng yêu dấu đã trôi qua.


    II



    BÀ MẶC ĐỒ TRẮNG



    Hồi đó có hai bà ở cũng nhà với chúng tôi, một bà mặc đồ trắng, một bà
    toàn đồ đen.


    Xin đừng hỏi hai bà ấy còn trẻ không, điều đó vượt quá sự hiểu biết của
    tôi. Nhưng tôi biết các bà ấy thơm tho và có đủ mọi cung cách tế nhị. Mẹ tôi,
    rất bận và không thích giao thiệp với hàng xóm, nên không đến nhà hai bà.
    Nhưng tôi thì tôi đến luôn, nhất là vào giờ ăn quá trưa vì bà mặc đồ đen
    thường cho tôi ăn bánh ngọt. Vậy là tôi cứ đến một mình. Phải đi qua sân.
    Mẹ tôi đứng ở cửa sổ theo dõi tôi và gõ lên cửa kính khi nào tôi mải ngắm
    bác đánh xe chải lông cho mấy con ngựa. Tốn sức lắm mới leo lên được cái
    cầu thang lan can sắt, mà những bậc cao có phải làm cho đôi bắp chân nhỏ
    của tôi đâu. Nhưng công của tôi không uổng một khi tôi vào căn phòng các
    bà, vì trong đó có nghìn thứ cho tôi ngây ngất. Song không có gì bằng đôi
    phỗng sứ ngồi trên lò sưởi; hai bên đồng hồ quả lắc. Tự chúng, chúng rụt đầu
    và thè lưỡi. Người ta cho tôi biết chúng ở bên Tàu sang và tôi tự hứa sẽ đi tới
    đó. Cái khó nhất là làm thế nào bảo chị vú em đưa tôi đến đấy. Tôi đã đinh
    [2]
    ninh rằng nước Tàu ở đằng sau Khải hoàn môn , nhưng tôi chưa bao giờ
    có cách gì tiến đến tận đó.


    Trong phòng các bà cũng có một cái thảm hoa, tôi thích thú lăn mình
    trên đó, và một tràng kỷ nhỏ êm và sâu, mà tôi chơi khi làm tàu thủy, khi làm
    ngựa hay xe. Bà mặc đồ đen, hơi béo thì phải, rất hiền và không bao giờ
    mắng tôi. Bà mặc đồ trắng tinh hay sốt ruột và cộc cằn, nhưng bà cười mới
    xinh chứ! Cả ba chúng tôi sống hòa thuận với nhau, và tôi đã dàn xếp trong
    óc rằng bao giờ cũng sẽ chỉ có tôi được vào phòng phỗng sứ mà thôi. Bà mặc
    đồ trắng mà tôi báo cho biết quyết định ấy, xem chừng hơi có vẻ giễu cợt tôi,
    nhưng tôi nài nỉ và bà ấy hứa tất cả những gì tôi muốn.


    Bà hứa như vậy. Thế mà một hôm, tôi thấy một ông ngồi vào tràng kỷ
    của tôi, chân để lên thảm của tôi và nói chuyện với các bà, vẻ thỏa mãn. Hắn

    còn đưa cho các bà một bức thư, các bà đọc rồi trả lại. Tôi không thích thế,
    nên tôi đòi uống nước đường vì tôi khát và cũng để cho người ta chú ý đến
    mình. Quả nhiên, ông kia nhìn tôi.


    - Đây là một chú bé hàng xóm, - bà mặc đồ đen nói.


    - Mẹ chú ấy chỉ có một mình chú thôi, có phải thế chăng? - Ông kia láy
    lại.


    - Đúng thế, - bà mặc đồ trắng nói. - Nhưng sao ông lại nghĩ như vậy?


    - Vì chú có vẻ một đứa con rất được nuông chiều, - ông ấy láy lại. - Chú
    ấy thóc mach và tò mò. Bây giờ chú đang mở mắt thao láo như hai cánh
    cổng xe.


    Ấy là để nhìn hắn cho kỹ. Tôi không muốn tự khoe, nhưng tôi rất hiểu,
    sau câu chuyện, rằng bà mặc đồ trắng có một người chồng chức tước gì đó ở
    một nước xa xôi, rằng ông khách đem đến một bức thư của người chồng ấy,
    người ta cảm ơn sự giúp đỡ của ông, và người ta chúc mừng ông đã được bổ
    nhiệm bí thư. Nhũng chuyện đó không làm tôi hài lòng và, khi ra về, tôi
    không chịu hôn bà mặc đồ trắng, để phạt bà ta.


    Bữa tối hôm đó, tôi hỏi cha tôi xem bí thư là cái gì. Cha tôi không trả
    [3]
    lời, và mẹ tôi bảo đó là một cái bàn gỗ nhỏ để xếp giấy tờ . Hiểu thế được
    không? Tôi được bế đi ngủ, và các quái vật có mắt ở giữa má diễu hành
    chung quanh giường tôi, mặt nhăn nhó hơn bao giờ hết.


    Nếu bạn tưởng hôm sau tôi nghĩ đến cái ông thấy ở nhà bà mặc đồ trắng,
    thì bạn lầm to, vì tôi đã quên khuấy hắn, và chỉ tùy ở hắn mà sẽ được xóa đi
    vĩnh viễn khỏi trí nhớ tôi. Nhưng hắn cả gan lại dấn thân đến nhà hai bà bạn
    tôi. Tôi không biết là mười hay mười lăm ngày sau cuộc đến thăm đầu tiên
    của hắn. Ngày nay tôi thiên về ý nghĩ cho là mười ngày. Cái ông ấy chiếm
    chỗ của tôi như thế, thật đến lạ. Lần này thì tôi ngắm nghía hắn, và chẳng
    thấy hắn có vẻ gì dễ thương. Đầu hắn rất bóng, ria mép đen, ria má đen, cằm
    cạo nhẵn, xẻ ở giữa, mình thon nhỏ, áo quần bảnh bao, và trông hắn có vẻ rất
    thỏa mãn! Hắn nói đến văn phòng Bộ trưởng ngoại giao, về các vở kịch, các

    thời thượng và sách mới, về những buổi dạ hội và khiêu vũ ở đó hắn đã hoài
    công tìm các bà này. Vậy mà các bà lắng nghe hắn! Như thế mà cũng là
    chuyện trò à? Sao hắn không thể nói, như bà mặc đồ đen nói với tôi, đến xứ
    sở có những núi bằng kẹo đường, và sông bằng nước chanh?


    Khi hắn đi rồi, bà mặc đồ đen bảo hắn là một thanh niên có duyên. Tôi
    thì tôi bảo hắn ta già và xấu xí. Cái đó khiến bà mặc đồ trắng cười phá lên.
    Mà có gì đáng cười đâu nhỉ? Nhưng thế đó, bà ta cười vì điều tôi bảo, hoặc
    bà chẳng nghe tôi nói. Bà mặc đồ trắng có hai tính xấu ấy, không kể một tính
    xấu thứ ba làm tôi thất vọng: là khóc, khóc, khóc. Mẹ bảo người lớn không
    bao giờ khóc. À! Là vì mẹ đã không nhìn thấy như tôi bà mặc đồ trắng đó,
    đổ nghiêng người trên ghế bành, một lá thư mở trên đầu gối, đầu ngửa ra và
    khăn tay để trên mắt. Lá thư ấy (ngày nay tôi sẽ cuộc rằng đó là một lá thư
    nặc danh) làm bà khổ lắm. Thật tai hại, vì bà thường cười vui thế! Hai cuộc
    đến thăm ấy khiến tôi nảy ra ý định xin cưới bà ta. Bà bảo bà có một ông
    chồng lớn ở Tàu, bà sẽ có một chồng nhỏ ở phố bờ sông Malaquais; thế là
    thu xếp xong, và bà cho tôi một chiếc bánh ngọt.


    Nhưng cái ông ria má đen thường trở lại luôn. Một hôm, khi bà mặc đồ
    trắng kể chuyện bà sẽ cho đem từ bên Tàu về cho tôi những con cá xanh lam
    với một chiếc cần để câu những con cá ấy thì hắn cho vào báo hắn đến và
    được tiếp. Xem cái kiểu chúng tôi nhìn nhau thì rõ là chúng tôi không ưa
    nhau. Bà mặc đồ trắng bảo hắn rằng cô bà (bà muốn nói bà mặc đồ đen) đi
    [4]
    mua gì đó ở Hai Ông Phỗng .Tôi nhìn hai ông phỗng trên lò sưởi và không
    nghĩ được phải đi đâu mua gì cho họ. Nhưng ngày nào cũng có những
    chuyện rất là khó hiểu! Ông kia không có vẻ buồn chút nào vì sự vắng mặt
    của bà mặc đồ đen, và hắn bảo bà mặc đồ trắng rằng hắn muốn nói chuyện
    đứng đắn với bà. Bà ngồi đỏm dáng trên tràng kỷ nhỏ và ra hiệu là bà nghe
    hắn. Nhưng hắn nhìn tôi và có vẻ lúng túng.


    - Chú bé này ngoan lắm, - sau cùng hắn vừa nói, vừa đưa tay xoa đầu
    tôi, - nhưng…


    - Chồng nhỏ của tôi đấy, - bà mặc đồ trắng nói.


    - Này! - Ông kia láy lại. - Thế bà không thể trả chú về cho mẹ chú ư?
    Điều tôi sẽ nói với bà chỉ có bà nghe được thôi.



    Bà nhượng bộ hắn.


    - Báu ơi,- bà bảo tôi, - báu sang chơi bên buồng ăn, và chỉ khi nào tôi
    gọi báu hãy trở lại. Đi, báu nhé!


    Tôi sang đấy, lòng nặng trĩu. Tuy nhiên nhìn cảnh buồng ăn rất kỳ thú,
    vì trong buồng có chiếc đồng hồ mặt là một bức tranh vẽ một ngọn núi ở bờ
    biển và một nhà thờ nổi bật dưới một bầu trời xanh biếc. Lúc chuông báo
    giờ, chiếc tàu thủy bập bềnh trên mặt sông, chiếc đầu tàu kéo các toa ra khỏi
    một đường hầm và chiếc khí cầu bay lên cao. Song khi lòng buồn thì chẳng
    gì làm vui được. Vả chăng mặt đồng hồ lại nằm im. Hình như đầu tàu, tàu
    thủy và khí cầu chỉ khởi hành mỗi giờ một lần, và một giờ thì thật là lâu! Ít
    nhất lâu vào lúc ấy. May thay, chị làm bếp đến tìm một cái gì ở tủ buýp phê
    và; thấy tôi buồn thiu, cho tôi mứt quả, xoa dịu những buồn phiền trong lòng
    tôi. Nhưng khi hết mứt rồi, tôi lại buồn như trước. Mặc dầu chuông đồng hồ
    chưa đánh, tôi tưởng tượng hàng giờ và hàng giờ đã chồng chất lên nỗi cô
    đơn buồn bã của tôi. Từng lúc tôi nghe từ buồng bên một vài tiếng nói to của
    ông kia; hắn van nài bà mặc đồ trắng rồi hình như hắn nổi giận với bà. Cho
    đáng kiếp! Nhưng họ sẽ không bao giờ chấm dứt chuyện trò à? Tôi dán mũi
    vào kính cửa, tôi rút các sợi cứng ở ghế dựa, tôi khoét rộng các lỗ ở giấy bồi
    tường, tôi bứt diềm của các màn che, nào tôi biết gì nữa? Chán chường là
    một điều ghê gớm. Sau cùng, không chịu được nữa, tôi lặng lẽ tiến đến cửa
    vào buồng các ông phỗng và vươn cánh tay lên để với tới quả nắm cửa. Tôi
    biết rõ là tôi đang có một hành động thô bạo và xấu xa, nhưng ngay điều đó
    cũng làm cho tôi có một chút gì như hiếu danh.


    Tôi mở cửa và thấy bà mặc đồ trắng đang đứng tựa lưng vào lò sưởi.
    Ông kia, quỳ dưới chân bà, dang rộng hai tay như để ôm lấy bà. Mặt hắn đỏ
    hơn mào gà trống, mắt hắn lồi ra. Người ta lại có thể đến tình trạng thế ư?


    - Thôi đi, ông, - bà mặc đồ trắng nói, mặt đỏ hồng hơn bao giờ hết và tỏ
    ra hết sức xúc động. - Xin ông thôi đi, vì ông bảo rằng ông yêu tôi. Thôi đi
    để tôi khỏi phải hối tiếc…


    Bà có vẻ sợ hắn và đã kiệt sức.


    Hắn vội đứng dậy khi trông thấy tôi; và tôi tin hắn thoáng có ý nghĩ
    quẳng tôi qua cửa sổ. Nhưng bà áo trắng, đáng lẽ mắng mỏ như tôi chờ đợi,
    lại ôm ghì tôi vào lòng mà gọi tôi là người yêu của bà.


    Bế tôi lên trường kỷ rồi, bà khóc hồi lâu rất êm ái bên má tôi. Chỉ có
    hai chúng tôi thôi. Để an ủi bà, tôi bảo rằng ông ria má đen là một người xấu
    và nếu bà cứ ở một mình với tôi, như đã thỏa thuận thì bà sẽ chẳng có
    chuyện buồn. Nhưng, có ăn thua gì đâu, tôi thấy người lớn đôi khi thật buồn
    cười.


    Chúng tôi chưa hoàn hồn thì bà mặc đồ đen bước vào với những gói
    bọc.


    Bà hỏi có ai đến không.


    - Ông Arnould đến, - bà mặc đồ trắng thản nhiên đáp, - nhưng ông ấy
    chỉ ở lại có một tí.


    Tôi biết đó là một lời nói dối, song vị phúc thần của bà mặc đồ trắng,
    hẳn là đi với tôi từ nãy đến giờ, đã đặt ngón tay vô hình lên miệng tôi.


    Tôi đã không gặp lại ông Arnould, và cuộc tình duyên của tôi với bà
    mặc đồ trắng không bị quấy rầy nữa; hẳn là vì thế nên tôi đã không nhớ
    chuyện ấy. Cho đến hôm qua, nghĩa là sau hơn ba mươi năm, tôi còn không
    biết bà ta bây giờ ra sao.


    Hôm qua, tôi đến dự khiêu vũ ở nhà ông Bộ trưởng ngoại giao. Tôi cũng
    nghĩ như ông Palmerston, nếu không có những thú vui thì cuộc sống còn dễ
    chịu. Công việc hàng ngày của tôi không vượt quá sức lực cũng không quá
    trí tuệ của tôi, và tôi thấy thích thú. Chính những cuộc tiếp khách long trọng
    làm tôi mệt lử. Tôi biết đến khiêu vũ nhà ông bộ trưởng sẽ chán ngấy và vô
    ích; tôi biết thế mà tôi cứ đến, vì bản chất con người là suy nghĩ khôn và
    hành động dại.


    Tôi vừa bước vào phòng khách lớn thì nghe người ta giới thiệu đại sứ và
    phu nhân. Tôi đã nhiều lần gặp ông đại sứ có nét mặt thanh tú mang dấu vết

    những mệt mỏi không phải tất cả đều do công việc ngoại giao. Người ta nói
    rằng hồi thanh xuân, ông đại sứ có nhiều cuộc tình duyên và trong những
    cuộc họp mặt của bọn đàn ông với nhau, người ta bàn tán về những chuyện
    trăng gió của ông ta.


    Thời gian ông ở bên Tàu, ba mươi năm trước, thì đặc biệt phong phú về
    những chuyện mà người ta ưa đóng kín cửa với nhau trong khi uống cà phê.
    Bà vợ, mà tôi không có hân hạnh được quen, xem chừng đã quá năm mươi.
    Bà mặc toàn đồ đen, những đăng ten rất đẹp bao phủ rất khéo sắc đẹp đã qua
    của bà, nhưng như vẫn còn phảng phất. Tôi sung sướng được giới thiệu với
    và, và tôi vô cùng ưa thích nói chuyện với phụ nữ có tuổi. Chúng tôi nó
    nghìn chuyện, trong tiếng vĩ cầm đưa đẩy các phụ nữ trẻ khiêu vũ, và quẩn
    quanh ngẫu nhiên, bà nói với tôi đến hồi bà ở một tòa nhà cổ phố bờ sông
    Malaquais.


    - Bà là bà mặc đồ trắng! - Tôi kêu lên.


    - Quả thế thật, thưa ông, - bà bảo tôi. - Hồi bấy giờ tôi luôn luôn mặc đồ
    trắng.


    - Còn tôi, thưa bà, tôi đã là chồng nhỏ của bà.


    - Sao! Thưa ông, ông là con cụ bác sĩ Nozière ưu tú đó ư? Ngày trước
    ông thích bánh ngọt lắm. Ông còn thích không? Vậy mời ông đến ăn ở nhà
    chúng tôi. Thứ bảy nào chúng tôi cũng có một tiệc trà nhỏ thân mật. Chúng
    ta gặp lại nhau, hay thật!


    - Thế còn bà mặc đồ đen?


    - Bây giờ tôi là bà mặc đồ đen. Bà cô tội nghiệp của tôi mất năm xảy ra
    chiến tranh. Trong những năm cuối đời bà, bà thường nhắc đến ông.


    Trong khi chúng tôi chuyện trò như vậy, một ông ria mép và ria má bạc
    trắng kính cẩn chào bà đại sứ với tất cả điệu bộ duyên dáng khệnh khạng của
    một lão già đỏm trai. Hình như tôi nhận ra cái cằm của ông ta.


    - Ông Arnould, - bà đại sứ bảo tôi, - một ông bạn già.



    III



    MẸ CHO CON BÔNG HOA HỒNG NÀY



    Chúng tôi ở trong một căn nhà rộng đầy những vật kỳ dị. Trên tường,
    dưới những sọ người và bộ tóc là những cụm binh khí man rợ. Trên trần treo
    những chiếc thuyền độc mộc cùng với tay chèo, kề cạnh với những con cá
    sấu nhồi rơm, tủ kính bày đầy những chim, tổ chim, san hô và vô vàn bộ
    xương bé nhỏ tựa hồ chứa chấp rất nhiều sự hằn thù và ác ý. Tôi không hiểu
    cha tôi đã có giao ước gì với những con vật kỳ quái đó, ngày nay, tôi mới
    hiểu: đây là sự giao ước của một người thích sưu tầm. Cha tôi, con người rất
    khôn ngoan và không hề hám lợi, mơ tưởng nhét cả thiên nhiên vào trong
    chiếc tủ. Đấy là vì lợi ích khoa học, cha tôi nói thế, tin như thế, nhưng sự
    thực chính là do cái tật của người thích sưu tầm.


    Toàn bộ căn nhà đầy những vật kỳ dị hiếm có của thiên nhiên. Chỉ trừ
    phòng khách nhỏ hẹp là không bị thực vật học, khoáng vật học, chủng tộc
    học và biến thái học chiếm cứ, ở đây không có vẩy rắn, mu rùa, không có
    xương cốt, mũi tên bằng đá,mũi đinh ba mà chỉ có hoa hồng. Khắp căn
    phòng khách đều dán giấy in hoa hồng. Ðây là những bông hoa hồng còn nụ,
    cánh còn khép chặt khiêm tốn, tất cả như nhau và tất cả đều xinh đẹp.


    Mẹ tôi, vốn có những mối tư thù đối với ngành thực vật học so sánh và
    việc đo sọ người, suốt cả ngày ngồi trong phòng khách trước bàn để đồ khâu.
    Tôi chơi quanh quẩn gần mẹ trên chiếc thảm, với một con cừu chỉ còn ba
    chân sau khi đã có bốn chân, điều đó làm cho nó không xứng đáng được
    chen vai thích cánh với những con thỏ hai đầu trong bộ sưu tập về biến thái
    học của cha tôi; tôi còn có thêm một con rối có thể cử động hai tay nhưng
    sặc mùi sơn, những giờ phút đó, tôi đã phải để cho trí tưởng tượng bay bổng
    rất nhiều vì đối với tôi, con rối và con cừu đã trở thành những nhân vật khác
    nhau trong hàng ngàn màn kịch kỳ thú. Lúc có điều gì xảy ra với con cừu và
    con rối làm cho tôi thích thú, tôi lại mách cho mẹ tôi biết. Nhưng lúc nào
    cũng chỉ là uổng công thôi. Cần phải nhận xét rằng người lớn không bao giờ
    hiểu những điều trẻ con giải thích. Mẹ tôi lại đãng trí nữa. Mẹ tôi không chú
    ý nghe tôi nói. Đấy là một nhược điểm rất lớn. Nhưng mẹ tôi có một cách trố

    mắt ...
     
    Gửi ý kiến

    Danh ngôn về sách

    “Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.